Sunday, September 13, 2026

Mùa Thu Đang Tới


Có phải trên gáy em

Hương chanh vừa đọng lại

Đúng rồi, trời vào Thu

 

Con sóc sau gốc tùng

Tha hạt dẻ về hang

Mùa Thu cũng lăn theo

 

Những con nai vào vườn

Mang theo mùa Thu mới

trên những chiếc xừng cong

 

Chiếc áo len trong tủ

vừa ngơ ngác kéo ra

mùa Thu… từ chiếc rương

 

Tiếng ngỗng kêu vang vang

Bay ngang qua nhà mình

Đánh rơi mùa Thu xuống

 

Đứa cháu tìm cặp sách

Cắt tóc …mặc áo mới

mang mùa Thu đến trường

 

Cây liễu bên hông nhà

Khi không mà muốn…khóc

Dụi đầu vào mùa Thu

 

Bụi Cúc vàng trước cửa

Nở chùm hoa đầu tiên

Hương thơm từ Thu trước

 

Người đàn bà rất cũ

Ngửa bàn tay rất gầy

Hứng giọt sương Thu mới.                

 

 Trần Mộng Tú 

– Chớm Thu 2026

 

BỮA CƠM CHIỀU

Trước năm 2000 (Trước khi có dịch Covid) Chúng tôi, những di dân Việt, đã tụ họp bạn hữu cung cấp những bữa ăn cho người Vô Gia Cư ở Bellevue, thành phố tôi cư ngụ (Bắc Seattle) rất thường xuyên. Lúc đó các bạn ở tuổi trên, dưới 60, nhưng ai ai cũng còn sức khỏe và nhiều nhiệt huyết. Vợ chồng tôi kêu gọi các bạn, cùng nhau nấu ăn cho những người Vô Gia Cư.

 Nhóm bạn tôi hơn 10 người, mỗi người một món, mỗi người một tay, mang thức ăn tới những trung tâm Homeless,cùng nhau ngồi xuống, ăn uống, nói chuyện với những người không nhà, không việc, đôi khi còn bệnh tật nữa. Nhưng chúng tôi cũng chẳng e ngại gì, đã ngồi xuống cùng ăn uống và trò truyện với họ.Có khi ở trung tâm Homeless thành phố, có khi ở một bãi đất trống bìa rừng nơi họ dựng lều. Đôi khi chúng tôi còn chung tiền mua tặng họ những chiếc lều mới. Càng tiếp xúc lâu càng nhận ra, phần đông những người homeless là người bị bệnh tâm thần.

Sau năm 2000. Vì ảnh hưởng của dịch Covid, Chúng tôi phải ngưng sinh hoạt rộng một thời gian. Bây giờ, các bạn ai cũng ngoài 70, có người ngoài 80, nên lái xe đường xa cũng đã ngại ngần, chỉ vợ chồng tôi còn sót lại, nên thỉnh thoảng gọi một hai người bạn thật gần nhà mình, phụ một tay, làm những bữa ăn nhỏ, cung cấp cho trên dưới 20 người. Khi không gọi được ai, vì có thể lúc đó họ đi chơi xa hay bận chuyện gia đình thì chúng tôi làm một mình. Ngoài ra cá nhân tôi vẫn làm gần như mỗi 2 tuần cung cấp (thực phẩm không xào nấu): Trái cây, sữa, trứng luộc, cookies, xúch xích) và nhận nấu bữa chiều (hàng tháng) cho khoảng 20 người. Chồng tôi sau khi hưu trí nhận làm thiện nguyện toàn thời gian cho Vincent De Paul nên lúc nào cũng bù đầu với công việc.

Cuối tuần này vợ chồng tôi phụ trách việc cung cấp “Bữa Cơm Chiều” cho 25 người ở trong trung tâm Homeless.

 Thực đơn giản dị là: Cơm gà, Salad, Trái cây tráng miệng, Sữa tươi.

 Một chị cho 2 con gà quay Costco và 2 hộp Salad, một chị mang tới khay trái cây to có Dưa Hấu và Nho Đỏ, Chúng tôi mua 2 gallons Sữa tươi và phụ trách việc nấu nướng, mang thức ăn tới Shelter.

Tôi làm đầu bếp: Gỡ thịt 2 con gà ra, để riêng. Hầm xương gà lấy nước lèo thổi cơm, cho thêm vào nồi cơm chút: Bột nghệ, mấy cái lá Bay leave khô, chút Muối, chút dầu olive. Khi cơm chín bỏ ra khay, Gà đã xé nhỏ, trộn thêm 1 gói mixed: carrot, green pease, corn (đã xào bơ tỏi) vào cho có màu sắc …Thế là có 2 khay cơm Gà thơm ngon, đẹp mắt.

Chồng phụ trách mang cơm chiều tới Shelter, vợ ở nhà dọn dẹp bếp. Nhiệm vụ hoàn tất tốt đẹp. Không ai nghĩ mình làm nhiều hơn ai.

Vừa dọn dẹp vừa nghĩ: Ước gì mình có thể làm một thêm một khay cơm như thế này tới chỗ đang có chiến tranh, rồi lại nghĩ: một khay như thế này thì ai ăn, ai đừng và xa quá làm sao mà đem tới…(Đúng là nghĩ ngớ ngẩn thật!) Vừa dọn dẹp vừa nghĩ đến cuộc chiến Trung Đông kéo dài đến cả gần 3 năm nay. Càng ngày càng thảm thương càng tồi tệ. Cuộc chiến ai thắng ai thua đó đã kéo theo hàng chục triệu con người lên bàn cân chính trị. Người dân là người chịu đựng thảm hỏa nhiều nhất, chết nhiều nhất. Hiện tại có bao nhiêu người đang cần tới bữa ăn cho người “Homeless”. Họ không cần bữa ăn thôi, họ cần mái nhà mình, cần cái chăn, cần tấm áo và ông bà, cha mẹ, con cháu cần nhau. Ai trả lại cho họ những người thân đã chết? Ai trả lại cho họ bữa ăn có mẹ, có cha trong những ngôi nhà đó?

Những người có quyền lực,họ chỉ nghĩ đến “thắng” và “thua” Họ đăt an nguy của hàng chục triệu con người lên bàn cân chính trị, chuyện sống chết là chuyện của người khác, không phải chuyện của những người có quyền lực trong tay. Một trái bom rơi xuống, có ai nghĩ đến sẽ rơi vào đâu? Bao nhiêu gia đình sẽ biến mất hay sẽ tan ra từng mảnh sống còn.Trước khi trái bom được ném đi, được thả xuống, có ai tự hỏi: Những dân chúng đáng thương đó đang ở đâu,trái bom này có rót trúng vào họ không?

Vừa dọn dẹp vừa nghĩ tới chiến tranh vừa nghĩ tới “Thơ”


Anh rót cho khéo nhé

Kẻo nhầm nhà tôi

Nhà tôi ở dưới chân đồi

Có giàn thiên lý có người tôi thương. (Yên Thao)

 

Những mảnh vườn ở nơi xa xôi đó, có giàn thiên lý không? Nhưng chắc chắn có nhiều bụi Hướng Dương, bụi hoa Hồng và rất nhiểu bụi hoa khác. Trong những ngôi nhà đó có ông bà đã già, có mẹ cha đang kiếm kế sinh nhai,và có đàn em bé đang cắp sách tới trường. Những trái bom rơi xuống, ai còn ai mất và đứa trẻ hay người già nào đó sẽ sống sót ra sao, khi cả gia đình đã chết? Họ là người may mắn hay bất hạnh. Nghĩ tới người cha hay người mẹ già sống sót đang quờ quạng trong đống gạch đổ nát, gọi con cháu, nghĩ tới những em bé ngồi trên bực của còn sót lại vài viên gạch đang khóc gọi mẹ cha…Thượng Đế Ơi! Trái bom đã thật sự rơi nhầm chỗ rồi.

 Làm sao mang được một bữa ăn đơn sơ này và những giọt nước mắt đang ứa ra trong mắt một người lưu vong tới một gia đình nào ở tận nơi xa xôi đó!

 

 Trần Mộng Tú

Tháng 9/10/2026

 

 

 

Monday, August 31, 2026

Chùa Dột

 
Giọt rơi thầm lặng trên vai Phật

Giọt len lén thấm vào trang kinh

Nhà sư giơ tay vuốt mặt ướt

Chú tiểu co ro ngồi lặng thinh

 

Giọt gõ trầm trầm theo nhịp mõ

Cánh sen lấp lánh giọt ngọc trai

Ngón tay Phật chỉ vầng trăng sáng

Cũng đầm đìa giọt ngắn giọt dài

 

Giọt xuống hậu liêu loang từng vũng

Giọt chan vào giữa bát cơm chay

Cọng rơm ngày trước qua bể khổ

Cũng giạt cổng chùa sáng hôm nay

 

Giọt kết thành tràng đeo trên cổ

Giây chuông ướt sũng giọt cam lồ

Tam quan mái lạnh người không tới

Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.

 

Trần Mộng Tú

Sunday, August 30, 2026

Có Lẽ Cũng Tuyệt Vời

 

Nằm cong trên sàn gác
Nệm không có dưới lưng
Trên đầu không có gối
Nỗi buồn rơi lưng chừng

Kéo chăn đắp lên mặt
Hay là chết thử chơi
Nếu chết năm ba bữa
Có lẽ cũng tuyệt vời

Bụng sẽ không phải ăn
Ngực thôi không thở nữa
Trái tim hết lơ mơ
Đầu mở tung cửa sổ

Thân như chiếc hộp rỗng
Không còn gì ở trong
Bài thơ đang viết dở
Chắc bay vào hư không

Hồn sẽ bước ra ngoài
Ngắm cái thân lạ lẫm
Suốt mấy chục năm trời
Giờ coi ngang lá rụng

Sách có in trăm cuốn
Đắp mặt chỉ một trang
Thơ có xếp đầy kệ
Còn lại chỉ một hàng

Một hàng Thơ nằm thẳng
Giữa vách gỗ thơm hơi
“Xử thế nhược đại mộng”
Tử sinh một tiếng cười

Nếu chết năm ba bữa
Có lẽ cũng tuyệt vời.

Trần Mộng Tú
(Ghi lại 8/2026)

*Câu thơ trong bài thơ “Xuân nhật túy khởi ngôn chí” của Lý Bạch

 

Cái Đồng Hồ Quả Quít


Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết.

Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)

Vào đây như lạc vào mê cung, cả một gian nhà to như cái nhà kho khổng lồ, thượng vàng, hạ cám không thiếu thứ gì làm Nhàn hoa cả mắt: Quần áo cũ, giầy dép, chăn nệm, bàn ghế, sách vở, băng nhạc, nồi xoong, máy móc… không thiếu một thứ gì. Ngay cả đồ chơi cho em bé cũng có.

Nhàn lang thang ở chỗ xếp đồ bát đĩa, nồi xoong. Cầm lên bỏ xuống, chưa thấy cái nắp nào đúng tầm cái nắp nồi nàng muốn tìm, đi loanh quanh sang cả chỗ để bát đĩa, ấm, chén trà… cầm lên, bỏ xuống thấy cái nào cũng đẹp. Hình như mấy bộ đồ trà này của các cụ già qua đời, các con đem cho đi. Nhàn cầm lên một cái chén kiểng nhái theo kiểu chén cổ của Tàu đời xưa, men chén mỏng, hoa văn tinh tế, nàng áp cái miệng chén vào tai mình nghe u..u… như tiếng gió từ thật xa thổi tới, Nhàn khẽ rùng mình, bỏ xuống. Một nỗi buồn thật nhẹ thổi qua lồng ngực Nhàn, Nhàn biết đó là “Tiếng thời gian”.

Cứ thế Nhàn chưa mua được cái nắp nồi nào mà vẫn lang thang trong tiệm vì thấy hấp dẫn quá… Đi một vòng Nhàn dừng lại ở kệ bán:  Radio, Đĩa nhạc, Đồng hồ để bàn, Đồng hồ treo tường… Ôi thôi! Không thiếu thứ gì, Nhàn tò mò cầm lên, ngắm nghía rồi bỏ xuống, định sang dãy kế bên thì mắt Nhàn bỗng chạm phải cái đồng hồ “quả quít” nằm khiêm tốn bên cạnh một cái đồng hồ để bàn và một cái Radio cũ kỹ. Tim Nhàn bỗng đập mạnh trong lồng ngực. Nhàn giơ tay chạm nhẹ vào cái đồng hồ, chưa dám cầm hẳn lên, một luồng điện rất nhẹ nhưng rất rõ ràng chạy từ mấy ngón tay nàng lên thẳng trái tim. Nhàn nhắm mắt lại co mấy ngón tay của mình lại như ôm lấy cái đồng hồ.

Nhàn nói trong cuống họng: “Sao nó lại nằm đây? Nó phải nằm với anh trong nghĩa trang ngày hôm đó chứ?” Nhàn nhớ rất rõ là người anh chồng của Nhàn đã để tấm hình của Nhàn và cái đồng hồ này trên nóc áo quan của Hoàng ngày hôm đó và Nhàn đã chứng kiến những xẻng đất hất lên nóc áo quan che khuất tấm hình Nhàn cùng với chiếc đồng hồ quả quýt này, nó đã được chôn cùng với Hoàng.

Dĩ vãng như một cuốn phim quay chậm của mấy mươi năm về trước. Nhàn nhớ Nhàn mua tặng Hoàng chiếc đồng hồ này vào ngày sinh nhật của anh và anh thích lắm, luôn luôn bỏ vào trong túi, ngay cả túi áo nhà binh.

Nhàn cầm chiếc đồng hồ lên ngắm nghía, càng ngắm càng thấy đúng là chiếc đồng hồ của nàng mua cho Hoàng, lật mặt sau của chiếc đồng hồ lên Nhàn thấy hai chữ H và N khắc cạnh nhau rõ ràng. Một hơi lạnh chạy dọc theo xương sống Nhàn, Nhàn như nghẹn thở, nước mắt ứa ra ràn rụa… Nhàn vội lấy tay quẹt nhanh lên mặt, sợ ai nhìn thấy.

Nhàn cầm chiếc đồng hồ chạy nhanh ra quầy trả tiền, quên luôn cả việc đi mua cái nắp nồi.

Nhàn vào xe, cầm chiếc đồng hồ quả quít trên tay, nước mắt Nhàn ràn rụa như mưa, Nhàn khóc như chưa bao giờ được khóc. Nhàn nhớ lại nụ cười của Hoàng hôm được “người yêu” tặng cho cái đồng hồ quả quýt. Nhàn nhớ nụ hôn của anh đặt trên trán nàng khi nói “Cám ơn em”.

Nhàn tỉnh dậy, thấy hai bên thái dương mình hình như ươn ướt, với tay lấy cái phone xem giờ. 10 giờ sáng rồi, sao mình dậy trễ thế nhỉ!

Hình như, hôm nay là thứ sáu, mình còn phải ra Good Will mua cái nắp nồi.

tmt
Viết cho ngày 30- 7-2026 (57 năm Cung mất)
 

Friday, December 26, 2025

Để Thấy Nhân Gian Úng Nỗi Sầu

 

Giáng sinh này Chúa sẽ ở đâu
Trên mái nhà hay dưới gầm cầu
Máng rơm có bập bềnh trong nước
Một cọng rơm khô vạn cọng sầu

Mẹ Chúa cũng như bao người mẹ
Nước mắt nước lũ hòa vào nhau
Tiếng kêu thảng thốt bầu sữa cạn
Chưa thóat ra đã chìm đáy sâu

Trên Trời trút xuống cơn giông bão
Dưới đất Người xả lũ thản nhiên
Cả Chúa và con trôi trong nước
Ngọn nến nào thắp đêm Giáng Sinh

Mẹ Chúa cúi thương bao người Mẹ
Ôm con trong lũ bơi giữa dòng
Bàn tay chưa kịp đưa ra với
Cả mẹ cả con chìm đáy sông

Giáng sinh này Chúa sẽ ở đâu
Máng cỏ có khô cho Chúa ngả đầu
Mẹ có ôm Chúa bơi trong nước
Để thấy nhân gian úng nỗi sầu.

Trần Mộng Tú
Giáng Sinh-2025



Hạt dẻ mùa Đông

 

Hôm nay tuyết đến
làm hoang mang cả buổi sáng mùa đông
tuyết tràn vào thành phố
trắng một dòng sông
những mái nhà
những con đường không còn dấu cũ
những cột đèn như chôn trong quá khứ
tuyết xóa đi bao kỷ niệm hôm qua
tuyết làm ngưng nụ cười
của một đóa hoa
và ướp lạnh những mần non mới hé
tuyết uốn cong thân cao
xuống đời dâu bể
làm mù lòa mắt sáng đêm đen
tuyết cắt đi
cả tiếng nói thân quen
của những cánh chim ở xa nhau
muốn gọi

Và hai ta chẳng cách nào bơi tới
giữa đôi bờ tuyết trắng mênh mông
nói cho em nghe
trong ngực anh còn bao nhiêu củi
hãy nhóm cho em một ngọn lửa hồng

Trái tim em xin làm viên hạt dẻ
anh ủ giữa lòng suốt
một mùa đông.

Trần Mộng Tú

Wednesday, November 26, 2025

NGÀY TẠ ƠN

 Tặng chị Trần Mộng Điệp

 

Tôi tới nhà Chị tôi
Ăn mừng Lễ Tạ Ơn
Nhà Chị ở rộng lắm
Có bao nhiêu là người

Có người già trăm tuổi
Ngồi trên chiếc ghế lăn
Da bà như chiếc khăn
Bao nhiêu là nếp gấp

Có ông trông rất thấp
Không phải ông lùn đâu
Tại lưng ông cong xuống
Như một chiếc cần câu

Có ông tóc bạch kim
Nhưng lưng ông rất thẳng
Có bà má nhăn nheo
Hàm răng giả trắng bóng

Nhà chị đông người lắm
Tóc họ trắng một màu
Nói chậm và đi chậm
Cười nhẹ trên vai nhau

Ở đây không ai trẻ
Ở đây không ai già
Họ như những bông hoa
Bên hàng rào luống tuổi

Thức ăn ngày Tạ Ơn
Thịt nguội và gà tây
Rau xanh và khoai tán
Nhìn thôi, bụng đã đầy

Mỗi năm tôi tới đây
Tạ Ơn cùng với Chị
Miệng ngậm miếng gà Tây
Nghe tuổi đời đập cánh

Hai chị em nhìn nhau
Thời gian giàn giụa chẩy.

Trần Mộng Tú
Thanks Giving 2025

VĨNH BIỆT TRẦN HOÀI THƯ

 

 
Nhà văn, nhà thơ Trần Hoài Thư. Tranh: Đinh Cường

Nhà văn Trần Hoài Thư, chủ nhân của Thư Ấn Quán, người phục hồi di sản văn học miền Nam 1954-1975 đã qua đời ngày 27-5-2024, đúng 1 tháng sau khi hiền thê của ông, bà Nguyễn Ngọc Yến mất ngày 27-4-2024.

Kệ sách trong buồng ngủ của tôi có: 

  • Thơ miền Nam trong thời chiến:

Gồm 263 nhà thơ miền Nam sáng tác cho chiến tranh

Tập I:  856 trang

Tập II: 741 trang

Tổng cộng 1600 trang giấy

  • Thơ tự do miền Nam, 660 trang
  • Tuyển tập Thơ- Ô Cửa

Toàn tập của Trần Hoài Thư, 380 trang.

Tất cả, với chữ ký đề tặng của tác giả.

Khi nhận được Thơ miền Nam trong thời chiến tôi thật sự bàng hoàng về số thơ viết ra trong chiến tranh của miền Nam sao có thể nhiều đến như thế. Mỗi người lính, mỗi thân nhân của lính hình như đều là thi sĩ cả. 

Nhờ có cuốn Thơ miền Nam trong thời chiến mà tôi biết được bài thơ Ở rừng U Minh ta không thấy em của tác giả Nguyễn Tiến Cung (Phạm Duy phổ nhạc). Một bài thơ về cuộc chiến, nhưng không có máu chảy, không có bom đạn, chỉ có hình ảnh mấy cây tràm gày như dáng người con gái, và người lính với cây súng ướt nòng. Bài thơ mà bất cứ lúc nào đọc lại hay nghe ai đó hát cũng làm tôi chảy nước mắt. 

Trần Hoài Thư và hiền thê đã để lại một công trình to tát: bảo tồn di sản văn học (với đúng ý nghĩa nhất) cho thế hệ Việt Nam lưu vong sau này hiểu được thế nào là chiến tranh mà người Việt của cả hai miền cùng gánh chịu.

Đây là một công trình quý báu, một đóng góp giá trị cho những thế hệ con cháu Việt Nam Cộng Hòa sau này khi muốn tìm hiểu về văn học của các bậc cha ông trong thời chiến.

Trần Mộng Tú                                                               

5-27-2024

**

Dưới đây là bài thơ Trần Mộng Tú viết tặng Trần Hoài Thư khi nhận được những tập sách tác giả gửi tặng.

“THƠ MIỀN NAM TRONG THỜI CHIẾN” (*)

Gửi Trần Hoài Thư 

Em úp mặt vào trang giấy trắng

đọc những bài thơ viết giữa chiến tranh

em thương những tình yêu khép mắt

thương những nỗi buồn vàng ngón tay anh

Mỗi trận đánh mang một tên riêng 

nhưng nỗi buồn không tên gọi

anh giơ mãi tay ra 

không với được hòa bình

vuốt mặt thấy đời mình như rừng đang cháy 

những tàn tro 

thương tích bật thành thơ

Bây giờ tìm anh biết tìm ở đâu

trên đỉnh Trường Sơn

hay vũng lầy Đồng Tháp

mặt trận đã yên thời gian mục nát 

có ai vừa cúi nhặt 

được câu thơ 

Giải khăn tang mấy mươi năm vàng ố 

mấy mươi năm mà vết sẹo còn mưng

mở những trang thơ 

rào rào tiếng đạn 

bay vào thành phố 

như tiếng vỗ cánh của bầy chim ưng

Thơ cắm súng trên mộ phần 

người lính trẻ

giầy saut, nón sắt xếp thẳng hàng

thơ vẽ thêm người con gái 

hai tay úp mặt 

vạt áo nhầu tóc rối dưới khăn tang

Mấy mươi năm bao nhiêu hồn rất mới

đã nhăn nheo theo cuộc chiến hoang tàn

bao đôi mắt sáng ngời vùi dưới đất 

trái tim nguyên còn rất đỗi nồng nàn

Mấy mươi năm anh có đời lưu lạc

ở nơi nào cũng cúi xuống nỗi đau

mấy mươi năm em sống đời ngơ ngác

thơ nhặt từng câu 

vẫn thấy xót thương nhau

Ôi cuộc chiến đã đi qua 

chúng ta mất hết

tình yêu 

tuổi trẻ 

và những ước mơ

thơ giúp em giữ mãi một điều gì thiêng liêng 

không mất được

nhưng cũng không tìm lại được bao giờ.

Tháng 1/2008

Khi nhận được: Thơ miền Nam trong thời chiến, Thư Ấn Quán sưu tập và xuất bản, chủ biên: nhà văn Trần Hoài Thư và bằng hữu.