Monday, August 31, 2026

Chùa Dột

 
Giọt rơi thầm lặng trên vai Phật

Giọt len lén thấm vào trang kinh

Nhà sư giơ tay vuốt mặt ướt

Chú tiểu co ro ngồi lặng thinh

 

Giọt gõ trầm trầm theo nhịp mõ

Cánh sen lấp lánh giọt ngọc trai

Ngón tay Phật chỉ vầng trăng sáng

Cũng đầm đìa giọt ngắn giọt dài

 

Giọt xuống hậu liêu loang từng vũng

Giọt chan vào giữa bát cơm chay

Cọng rơm ngày trước qua bể khổ

Cũng giạt cổng chùa sáng hôm nay

 

Giọt kết thành tràng đeo trên cổ

Giây chuông ướt sũng giọt cam lồ

Tam quan mái lạnh người không tới

Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.

 

Trần Mộng Tú

Sunday, August 30, 2026

Có Lẽ Cũng Tuyệt Vời

 

Nằm cong trên sàn gác
Nệm không có dưới lưng
Trên đầu không có gối
Nỗi buồn rơi lưng chừng

Kéo chăn đắp lên mặt
Hay là chết thử chơi
Nếu chết năm ba bữa
Có lẽ cũng tuyệt vời

Bụng sẽ không phải ăn
Ngực thôi không thở nữa
Trái tim hết lơ mơ
Đầu mở tung cửa sổ

Thân như chiếc hộp rỗng
Không còn gì ở trong
Bài thơ đang viết dở
Chắc bay vào hư không

Hồn sẽ bước ra ngoài
Ngắm cái thân lạ lẫm
Suốt mấy chục năm trời
Giờ coi ngang lá rụng

Sách có in trăm cuốn
Đắp mặt chỉ một trang
Thơ có xếp đầy kệ
Còn lại chỉ một hàng

Một hàng Thơ nằm thẳng
Giữa vách gỗ thơm hơi
“Xử thế nhược đại mộng”
Tử sinh một tiếng cười

Nếu chết năm ba bữa
Có lẽ cũng tuyệt vời.

Trần Mộng Tú
(Ghi lại 8/2026)

*Câu thơ trong bài thơ “Xuân nhật túy khởi ngôn chí” của Lý Bạch

 

Cái Đồng Hồ Quả Quít


Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết.

Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)

Vào đây như lạc vào mê cung, cả một gian nhà to như cái nhà kho khổng lồ, thượng vàng, hạ cám không thiếu thứ gì làm Nhàn hoa cả mắt: Quần áo cũ, giầy dép, chăn nệm, bàn ghế, sách vở, băng nhạc, nồi xoong, máy móc… không thiếu một thứ gì. Ngay cả đồ chơi cho em bé cũng có.

Nhàn lang thang ở chỗ xếp đồ bát đĩa, nồi xoong. Cầm lên bỏ xuống, chưa thấy cái nắp nào đúng tầm cái nắp nồi nàng muốn tìm, đi loanh quanh sang cả chỗ để bát đĩa, ấm, chén trà… cầm lên, bỏ xuống thấy cái nào cũng đẹp. Hình như mấy bộ đồ trà này của các cụ già qua đời, các con đem cho đi. Nhàn cầm lên một cái chén kiểng nhái theo kiểu chén cổ của Tàu đời xưa, men chén mỏng, hoa văn tinh tế, nàng áp cái miệng chén vào tai mình nghe u..u… như tiếng gió từ thật xa thổi tới, Nhàn khẽ rùng mình, bỏ xuống. Một nỗi buồn thật nhẹ thổi qua lồng ngực Nhàn, Nhàn biết đó là “Tiếng thời gian”.

Cứ thế Nhàn chưa mua được cái nắp nồi nào mà vẫn lang thang trong tiệm vì thấy hấp dẫn quá… Đi một vòng Nhàn dừng lại ở kệ bán:  Radio, Đĩa nhạc, Đồng hồ để bàn, Đồng hồ treo tường… Ôi thôi! Không thiếu thứ gì, Nhàn tò mò cầm lên, ngắm nghía rồi bỏ xuống, định sang dãy kế bên thì mắt Nhàn bỗng chạm phải cái đồng hồ “quả quít” nằm khiêm tốn bên cạnh một cái đồng hồ để bàn và một cái Radio cũ kỹ. Tim Nhàn bỗng đập mạnh trong lồng ngực. Nhàn giơ tay chạm nhẹ vào cái đồng hồ, chưa dám cầm hẳn lên, một luồng điện rất nhẹ nhưng rất rõ ràng chạy từ mấy ngón tay nàng lên thẳng trái tim. Nhàn nhắm mắt lại co mấy ngón tay của mình lại như ôm lấy cái đồng hồ.

Nhàn nói trong cuống họng: “Sao nó lại nằm đây? Nó phải nằm với anh trong nghĩa trang ngày hôm đó chứ?” Nhàn nhớ rất rõ là người anh chồng của Nhàn đã để tấm hình của Nhàn và cái đồng hồ này trên nóc áo quan của Hoàng ngày hôm đó và Nhàn đã chứng kiến những xẻng đất hất lên nóc áo quan che khuất tấm hình Nhàn cùng với chiếc đồng hồ quả quýt này, nó đã được chôn cùng với Hoàng.

Dĩ vãng như một cuốn phim quay chậm của mấy mươi năm về trước. Nhàn nhớ Nhàn mua tặng Hoàng chiếc đồng hồ này vào ngày sinh nhật của anh và anh thích lắm, luôn luôn bỏ vào trong túi, ngay cả túi áo nhà binh.

Nhàn cầm chiếc đồng hồ lên ngắm nghía, càng ngắm càng thấy đúng là chiếc đồng hồ của nàng mua cho Hoàng, lật mặt sau của chiếc đồng hồ lên Nhàn thấy hai chữ H và N khắc cạnh nhau rõ ràng. Một hơi lạnh chạy dọc theo xương sống Nhàn, Nhàn như nghẹn thở, nước mắt ứa ra ràn rụa… Nhàn vội lấy tay quẹt nhanh lên mặt, sợ ai nhìn thấy.

Nhàn cầm chiếc đồng hồ chạy nhanh ra quầy trả tiền, quên luôn cả việc đi mua cái nắp nồi.

Nhàn vào xe, cầm chiếc đồng hồ quả quít trên tay, nước mắt Nhàn ràn rụa như mưa, Nhàn khóc như chưa bao giờ được khóc. Nhàn nhớ lại nụ cười của Hoàng hôm được “người yêu” tặng cho cái đồng hồ quả quýt. Nhàn nhớ nụ hôn của anh đặt trên trán nàng khi nói “Cám ơn em”.

Nhàn tỉnh dậy, thấy hai bên thái dương mình hình như ươn ướt, với tay lấy cái phone xem giờ. 10 giờ sáng rồi, sao mình dậy trễ thế nhỉ!

Hình như, hôm nay là thứ sáu, mình còn phải ra Good Will mua cái nắp nồi.

tmt
Viết cho ngày 30- 7-2026 (57 năm Cung mất)
 

Friday, December 26, 2025

Để Thấy Nhân Gian Úng Nỗi Sầu

 

Giáng sinh này Chúa sẽ ở đâu
Trên mái nhà hay dưới gầm cầu
Máng rơm có bập bềnh trong nước
Một cọng rơm khô vạn cọng sầu

Mẹ Chúa cũng như bao người mẹ
Nước mắt nước lũ hòa vào nhau
Tiếng kêu thảng thốt bầu sữa cạn
Chưa thóat ra đã chìm đáy sâu

Trên Trời trút xuống cơn giông bão
Dưới đất Người xả lũ thản nhiên
Cả Chúa và con trôi trong nước
Ngọn nến nào thắp đêm Giáng Sinh

Mẹ Chúa cúi thương bao người Mẹ
Ôm con trong lũ bơi giữa dòng
Bàn tay chưa kịp đưa ra với
Cả mẹ cả con chìm đáy sông

Giáng sinh này Chúa sẽ ở đâu
Máng cỏ có khô cho Chúa ngả đầu
Mẹ có ôm Chúa bơi trong nước
Để thấy nhân gian úng nỗi sầu.

Trần Mộng Tú
Giáng Sinh-2025



Hạt dẻ mùa Đông

 

Hôm nay tuyết đến
làm hoang mang cả buổi sáng mùa đông
tuyết tràn vào thành phố
trắng một dòng sông
những mái nhà
những con đường không còn dấu cũ
những cột đèn như chôn trong quá khứ
tuyết xóa đi bao kỷ niệm hôm qua
tuyết làm ngưng nụ cười
của một đóa hoa
và ướp lạnh những mần non mới hé
tuyết uốn cong thân cao
xuống đời dâu bể
làm mù lòa mắt sáng đêm đen
tuyết cắt đi
cả tiếng nói thân quen
của những cánh chim ở xa nhau
muốn gọi

Và hai ta chẳng cách nào bơi tới
giữa đôi bờ tuyết trắng mênh mông
nói cho em nghe
trong ngực anh còn bao nhiêu củi
hãy nhóm cho em một ngọn lửa hồng

Trái tim em xin làm viên hạt dẻ
anh ủ giữa lòng suốt
một mùa đông.

Trần Mộng Tú

Wednesday, November 26, 2025

NGÀY TẠ ƠN

 Tặng chị Trần Mộng Điệp

 

Tôi tới nhà Chị tôi
Ăn mừng Lễ Tạ Ơn
Nhà Chị ở rộng lắm
Có bao nhiêu là người

Có người già trăm tuổi
Ngồi trên chiếc ghế lăn
Da bà như chiếc khăn
Bao nhiêu là nếp gấp

Có ông trông rất thấp
Không phải ông lùn đâu
Tại lưng ông cong xuống
Như một chiếc cần câu

Có ông tóc bạch kim
Nhưng lưng ông rất thẳng
Có bà má nhăn nheo
Hàm răng giả trắng bóng

Nhà chị đông người lắm
Tóc họ trắng một màu
Nói chậm và đi chậm
Cười nhẹ trên vai nhau

Ở đây không ai trẻ
Ở đây không ai già
Họ như những bông hoa
Bên hàng rào luống tuổi

Thức ăn ngày Tạ Ơn
Thịt nguội và gà tây
Rau xanh và khoai tán
Nhìn thôi, bụng đã đầy

Mỗi năm tôi tới đây
Tạ Ơn cùng với Chị
Miệng ngậm miếng gà Tây
Nghe tuổi đời đập cánh

Hai chị em nhìn nhau
Thời gian giàn giụa chẩy.

Trần Mộng Tú
Thanks Giving 2025

VĨNH BIỆT TRẦN HOÀI THƯ

 

 
Nhà văn, nhà thơ Trần Hoài Thư. Tranh: Đinh Cường

Nhà văn Trần Hoài Thư, chủ nhân của Thư Ấn Quán, người phục hồi di sản văn học miền Nam 1954-1975 đã qua đời ngày 27-5-2024, đúng 1 tháng sau khi hiền thê của ông, bà Nguyễn Ngọc Yến mất ngày 27-4-2024.

Kệ sách trong buồng ngủ của tôi có: 

  • Thơ miền Nam trong thời chiến:

Gồm 263 nhà thơ miền Nam sáng tác cho chiến tranh

Tập I:  856 trang

Tập II: 741 trang

Tổng cộng 1600 trang giấy

  • Thơ tự do miền Nam, 660 trang
  • Tuyển tập Thơ- Ô Cửa

Toàn tập của Trần Hoài Thư, 380 trang.

Tất cả, với chữ ký đề tặng của tác giả.

Khi nhận được Thơ miền Nam trong thời chiến tôi thật sự bàng hoàng về số thơ viết ra trong chiến tranh của miền Nam sao có thể nhiều đến như thế. Mỗi người lính, mỗi thân nhân của lính hình như đều là thi sĩ cả. 

Nhờ có cuốn Thơ miền Nam trong thời chiến mà tôi biết được bài thơ Ở rừng U Minh ta không thấy em của tác giả Nguyễn Tiến Cung (Phạm Duy phổ nhạc). Một bài thơ về cuộc chiến, nhưng không có máu chảy, không có bom đạn, chỉ có hình ảnh mấy cây tràm gày như dáng người con gái, và người lính với cây súng ướt nòng. Bài thơ mà bất cứ lúc nào đọc lại hay nghe ai đó hát cũng làm tôi chảy nước mắt. 

Trần Hoài Thư và hiền thê đã để lại một công trình to tát: bảo tồn di sản văn học (với đúng ý nghĩa nhất) cho thế hệ Việt Nam lưu vong sau này hiểu được thế nào là chiến tranh mà người Việt của cả hai miền cùng gánh chịu.

Đây là một công trình quý báu, một đóng góp giá trị cho những thế hệ con cháu Việt Nam Cộng Hòa sau này khi muốn tìm hiểu về văn học của các bậc cha ông trong thời chiến.

Trần Mộng Tú                                                               

5-27-2024

**

Dưới đây là bài thơ Trần Mộng Tú viết tặng Trần Hoài Thư khi nhận được những tập sách tác giả gửi tặng.

“THƠ MIỀN NAM TRONG THỜI CHIẾN” (*)

Gửi Trần Hoài Thư 

Em úp mặt vào trang giấy trắng

đọc những bài thơ viết giữa chiến tranh

em thương những tình yêu khép mắt

thương những nỗi buồn vàng ngón tay anh

Mỗi trận đánh mang một tên riêng 

nhưng nỗi buồn không tên gọi

anh giơ mãi tay ra 

không với được hòa bình

vuốt mặt thấy đời mình như rừng đang cháy 

những tàn tro 

thương tích bật thành thơ

Bây giờ tìm anh biết tìm ở đâu

trên đỉnh Trường Sơn

hay vũng lầy Đồng Tháp

mặt trận đã yên thời gian mục nát 

có ai vừa cúi nhặt 

được câu thơ 

Giải khăn tang mấy mươi năm vàng ố 

mấy mươi năm mà vết sẹo còn mưng

mở những trang thơ 

rào rào tiếng đạn 

bay vào thành phố 

như tiếng vỗ cánh của bầy chim ưng

Thơ cắm súng trên mộ phần 

người lính trẻ

giầy saut, nón sắt xếp thẳng hàng

thơ vẽ thêm người con gái 

hai tay úp mặt 

vạt áo nhầu tóc rối dưới khăn tang

Mấy mươi năm bao nhiêu hồn rất mới

đã nhăn nheo theo cuộc chiến hoang tàn

bao đôi mắt sáng ngời vùi dưới đất 

trái tim nguyên còn rất đỗi nồng nàn

Mấy mươi năm anh có đời lưu lạc

ở nơi nào cũng cúi xuống nỗi đau

mấy mươi năm em sống đời ngơ ngác

thơ nhặt từng câu 

vẫn thấy xót thương nhau

Ôi cuộc chiến đã đi qua 

chúng ta mất hết

tình yêu 

tuổi trẻ 

và những ước mơ

thơ giúp em giữ mãi một điều gì thiêng liêng 

không mất được

nhưng cũng không tìm lại được bao giờ.

Tháng 1/2008

Khi nhận được: Thơ miền Nam trong thời chiến, Thư Ấn Quán sưu tập và xuất bản, chủ biên: nhà văn Trần Hoài Thư và bằng hữu.

MẦU SON CŨ

 

(Để nhớ lại một màu son)

Người đàn bà trẻ tìm thấy đoạn văn viết ngắn dưới đây trên trang mạng riêng của Mẹ, bằng tiếng Việt Nam, khi chị vào máy tìm hồ sơ cá nhân của Mẹ để cung cấp cho “Nhà Già”. Chị đọc tiếng Việt không rành lắm, chữ hiểu, chữ không, Chị mang đoạn viết sang trang Google để dịch sang tiếng Anh cho thấu đáo hơn:

Tôi nhớ, cách đây hơn bốn mươi năm, khi bỏ nước ra đi, vốn liếng tôi mang theo trong túi hành lý có hai trăm ($200.-) Mỹ kim, và gần một ngàn đồng tiền Việt Nam Cộng Hòa. Có một tờ 500, một tờ 100 và vài tờ 20, vài tờ 5 đồng, tờ 1 đồng. Số tiền này để lẫn lộn vào nhau trong một cái phong bì. Cái phong bì nhét vào trong một cái túi vải trong đó có cuốn Kim Vân Kiều, cuốn Chinh Phụ Ngâm, một cái áo dài, hai bộ quần áo ngắn, cây son, cái lược. Đó là cái vốn vật chất cho một phụ nữ vừa bước vào tuổi 30, trên con đường di tản. Cái vốn tinh thần tôi mang theo được là cha mẹ, Bố 70 tuổi, Mẹ 65.

Bây giờ cha mẹ tôi đã theo nhau qua đời ở tuổi 80. Cái vốn vật chất tôi mang theo thì những đồng tiền VNCH chỉ còn lại vài tờ 1 đồng (Chúng thất lạc chứ không phải tôi tiêu mất) hai cuốn sách vẫn còn trên kệ, chiếc áo dài vẫn giữ trong ngăn kéo, mỗi độ Tết về lại được mang ra, cầm giơ lên, giũ xuống rồi ướm thử lại vào mình với cả nỗi ngậm ngùi. Cây son đã bạc màu, cái màu Terracotta ngọt ngào đã khô queo, đặt nhẹ lên đôi môi (nhưng không tô) ngậm ngùi nhớ lại ngày thật xa xôi đó, ai đã chọn cho màu son đẹp đến nao lòng, thế này! Nhớ lại kỷ niệm một lần tôi đi vắng, người yêu tôi tới nhà không gặp, đã cầm một thỏi son trên bàn phấn của tôi, viết lên mặt gương: “Em đâu rồi?” Tôi về đọc thấy hạnh phúc đến lịm người. Tôi giữ mấy chữ đó đến cả mấy tháng trên gương, lúc chùi đi,muốn khóc. Bây giờ mỗi lần soi (trong tưởng tượng) lại chiếc gương dĩ vãng cái hình ảnh của ba chữ đó vẫn lung linh trong ký ức tôi và vẫn “muốn khóc”. Thật là may mắn, tôi được trưởng thành trong một thế hệ chưa có điện thoại cầm tay, ngay cả đến điện thoại bàn, tư gia cũng hiếm có, vì nếu có,những người yêu nhau làm sao được hưởng những cảm xúc lãng mạn của mấy chữ viết bằng son môi trên mặt gương soi. Bây giờ vào những ngày cuối năm, chờ Tết đến, nhìn vào trong gương ở một ngôi nhà cách quê hương mình cả một đại dương, đôi khi, tôi ngậm ngùi hỏi khẽ: “Anh đâu rồi?”

Chị ngồi thần người ra khi đọc đoạn văn trên. Đoạn văn này chắc không phải Mẹ viết cho Bố, vì ngày tháng cả gần 40 năm về trước, câu cuối là: “Anh đâu rồi?” Bố lúc đó còn sống mà. Mẹ mình có mối tình này trước khi lấy Bố mình à? Mối tình này như thế đã hơn nửa thế kỷ trôi qua rồi.

Mẹ chị vừa bước qua tuổi 90, cụ đã bắt đầu lẫn, không tự săn sóc mình và không dùng máy móc được nữa.

Bố chị mới mất cách đây hai năm và Mẹ chị xuống tinh thần rất nhanh sau khi Bố mất. Bắt đầu là buồn bã, bỏ ăn, thiếu ngủ, sau đi tới trầm cảm.

 Chị đi làm bán thời gian, giờ còn lại cả ngày chạy xe ngoài đường đưa đón mấy đứa nhỏ, hết trường lớp thì sinh hoạt sau giờ học. Chị không thể luôn ở bên Mẹ. Chị tìm được nhà già cho Mẹ rất gần trường học của con, lại gần nhà nữa, nên ngày nào cũng ghé Mẹ được, Mẹ chị chỉ cần trông thấy chị là cụ yên lòng.

Đúng rồi, Chị nhớ có được nghe loáng thoáng trong họ hàng là Mẹ có một mối tình chết trong chiến tranh trước khi lấy Bố Chị. Chị sinh ra và trưởng thành ở Mỹ, Bố chị là người bản xứ nên Chị không biết gì về chiến tranh Việt Nam cả, mặc dù có đại gia đình bên Mẹ là người Việt, được hưởng nhiều phong tục tập quán của người Việt, Chị vẫn thấy mình là một người bản xứ hơn là người Việt Nam. Chị tần ngần trước cái màn hình nhỏ, thấy thương Mẹ quá, Mẹ thân và yêu mình lắm, thế mà chẳng bao giờ Mẹ kể chuyện “ngày xưa của Mẹ” cho mình nghe. Không biết bây giờ Mẹ còn đủ minh mẫn để nhớ lại không?

 Mấy ngày không ngủ được về cái trang Mẹ viết trong máy điện toán, Chị muốn làm một việc gì đó cho Mẹ vui và để trí nhớ Mẹ trở lại. Cuối cùng sau hai tuần lễ Chị nghĩ ra được một cách, và Chị thử xem có giúp Mẹ tỉnh táo hơn không? Chị lên mạng tìm màu son Terracotta, màu hồng của đất. Chị tìm mua được một cây son pha giữa màu hồng và màu nâu nhạt. Khi Chị có thỏi son trên tay, Chị cứ thử đi thử lại trên môi mình mấy lần, nhìn ngắm cái màu son hồng nhàn nhạt pha nâu, thật nhẹ nhàng và ấm áp. Chị nghĩ tới mối tình rất xa xưa của hai người còn rất trẻ ở một đất nước xa xăm nào đó. Rồi mối tình đó bị chết trong chiến tranh…. Bất giác Chị ứa hai hàng nước mắt, thương Mẹ và thương cả người thanh niên xa lạ nào đó.

Chị vào Viện Dưỡng Lão thăm Mẹ, Chị đưa Mẹ ra ngồi ở chiếc băng trong vườn hoa của viện. Đợi Mẹ ngồi năm mười phút, hỏi han Mẹ vài câu, chị lấy trong túi ra thỏi son đặt vào tay Mẹ khẽ nói:

“Me ơi! Con có cái này cho Mẹ.” 

Mẹ chị cúi xuống nhìn thỏi son con mới đặt vào tay, chị vội giúp Mẹ mở nắp rồi vặn cây son lên cho Mẹ nhìn rõ màu hồng nâu nhàn nhạt của son. 

Chị thấy Mẹ mình ngồi im lặng không nói gì, phải đến năm bảy phút sau Mẹ mới hỏi:

– Ai đưa cho con? 

Chị bối rối mất mấy giây, rồi cũng nói được: 

– Con tìm thấy trong ngăn kéo quần áo cũ của Mẹ.

Mắt Mẹ chị sáng hẳn lên, long lanh như có tra nước vào:

– Thật hả con?

– Còn tốt lắm mẹ ạ.

Chị nói xong, cầm thỏi son thoa nhẹ lên môi Mẹ, màu son hồng nhạt làm khuôn mặt Mẹ chị trông tươi hẳn lên. Chị thấy Mẹ khẽ nhắm mắt lại, Mẹ giơ tay nắm chặt bàn tay Chị, hai giọt lệ rất nhỏ nhưng rất long lanh ứa ra ở khóe mắt Mẹ. Chị vít đầu Mẹ ngả vào vai mình, nước mắt chị cũng ứa ra.

Buổi chiều đang xuống ở chung quanh hai người.

Trần Mộng Tú 

Tháng 4-2025