Saturday, December 5, 2015

Chuông Gọi Hồn Ai




Cuối năm nghe hồn rất mỏi
Bụi nào trong mắt cay cay (tmt)

Buổi sáng mùa đông tôi lái xe đi về phía nhà thờ, tôi đi giữa hai hàng cây đã rụng đến chiếc lá cuối cùng, những nhánh cây khô vươn lên bầu trời xám, trông như những bộ xương cá voi khô, trông như ai vừa tung ra những nắm bút chì dài ngoằng, trông như những sợi giây thép cong queo vứt lên không gian. Trông không còn là cây của ngày tháng hôm qua nữa.

Ở một ngã tư, khi vừa ngưng lại chờ đèn xanh, tôi được ngắm một bầy hải âu rất đông, không biết từ đâu kéo đến, chúng bay vần vũ trên những nóc nhà, mầu trắng của cánh pha vào màu xám của bầu trời mơ hồ như không có thật, khi chúng bay lao xuống, chúng thả theo những tiếng kêu thật thấp, thấp đến nỗi mình có cảm tưởng sẽ nhặt được những tiếng kêu đó, nhưng chưa kịp làm gì cả thì chúng lại bay vụt lên.

Hai bên đường những bóng đèn màu đã gần như được treo trên hầu hết những cửa hàng, và quấn chung quanh những thân cây. Cây thật sự không cần lá nữa. Những ngọn đèn xanh đỏ đã cho chúng một hình hài mới.

Ở một ngã tư kế, những bóng đèn màu đang chớp chới trên vai hai người đàn ông vô gia cư ngồi dưới gốc cây. Gió thổi đến từ bốn góc đường. Mùa đông thật sự hiện hữu. Tôi đi qua những hàng cây khô, những ngọn đèn màu, qua vai người homeless. Tôi nhặt lên được gì trong mùa đông?

 Hai tuần trước một người bạn bỏ đi, đi thật xa “Người đi, ừ nhỉ người đi thật” .Người bạn đó là nhà văn Phùng Nguyễn. Sự ra đi của anh như một cơn gió mạnh đến bất ngờ làm gẫy ngang một thân cây, không chống đỡ kịp. Những thớ gỗ tươi rói, rách tươm còn ứa nhựa.

“Anh Phùng để lại một dấu ấn không thể nào phai mờ. Cũng không ai thay thế được. Bao nhiêu câu chuyện, bao nhiêu kỷ niệm, chồng chất như “Tháp Ký Ức” của anh.” (Điếu Văn-Da Màu)

Phùng Nguyễn cũng để lại bao nhiêu dự định văn học anh đã phác thảo, những câu phỏng vấn anh gửi cho tôi (Trong mục phỏng vấn đang lên khuôn của anh) tôi chưa viết xong, còn bàn qua, nói lại với anh. Anh muốn trả lời dài, mà tôi thì chỉ biết trả lời ngắn. Bây giờ thì chữ nghĩa đều theo thân xác anh bay như tàn tro rồi, anh có nhặt lên được xem dài ngắn thế nào không? Nghĩ mà thương anh.

Tôi táp xe vào một bãi đậu, rồi bước xuống đi vào mùa đông. Những chiếc lá nằm chết thản nhiên hai bên cạnh đường, tôi cúi xuống nhặt lên một chiếc, như nhặt một bài thơ.


Bài thơ của thi sĩ Khánh Hà viết cho chồng, nhà văn Tâm Thanh trong khi anh đang cố chống trả với ung thư. Khánh Hà cũng hình dung ra đời người như lá:

Đời người như lá mong manh
Hôm nao lá sẽ lìa cành lá rơi
Nghiêng nghiêng vẫn một dáng ngồi
Mái đầu bạc trắng đâu rồi tóc xưa
Tình yêu lòng vẫn còn thừa
Trái tim rạng rỡ vẫn chưa nhạt màu…..
(Chiếc Lá Mong Manh-KH)

Chiếc lá đó đã rơi vào tháng Tư năm 2014, trước Nguyễn Xuân Hoàng năm tháng.

Tâm Thanh với những tác phẩm đáng ghi nhớ trong lòng độc giả: Thiên Nga Giữa Cõi Người, Gỗ Thức Trên Rừng, Thiên Hương Về Trời…

Hai người bạn văn ở hai bên trời cách biệt cùng đi về một phía trong một thời gian rất ngắn.

Tôi dong chơi tự do một thời
Ngoảnh lại đằng sau giật mình sợ hãi
Những dại khờ những lầm những lỡ
Những suối sâu xanh những đèo cao cong những truông dài mờ
Trời thì đang mông mênh

Ôi ngựa phi nước đại một thời bỗng quị chân
Ôi chim bay mù khơi bỗng gẫy cánh
Ôi tôi người xa lạ bỗng quen em… (Làm Quen-NXH)


Đó là thơ tình của tác giả đã viết: Bụi và Rác, Căn Nhà Ngói Đỏ, Người Đi Trên Mây.

 Anh cũng bỏ chúng ta đi tháng 9 năm ngoái, sau hơn một năm anh bỏ viết. Nguyễn Xuân Hoàng viết văn nhiều hơn làm thơ, thơ của anh cũng buồn buồn như văn của anh vậy.

Nguyễn Xuân Hoàng để cả một đời cho văn chương chữ nghĩa. Anh dậy học, làm báo, viết văn, làm thơ. Tất cả sở thích, nghề nghiệp đều chạy quanh con chữ. Anh mất, nơi thành phố anh cư ngụ mất đi hình ảnh một người làm văn chương có phong cách trước 1975, một nhà văn của thời VNCH. Đáng tiếc lắm!

Cũng trong năm ngoái, trong băng giá tháng 12 của Na Uy, chúng ta mất Nguyễn Hữu Nhật. Nguyễn Hữu Nhật là phu quân của nhà văn Nguyễn Thị Vinh, ông có bài thơ- Người Tù Già Kể Chuyện Mình, rất hay, đây là một đoạn trong bài thơ đó.

Anh chị em ơi
Làm sao chúng ta có thể trả lời cho con cháu
Ngày mai
Về một câu hỏi rất giản dị
Sống để làm gì?
Nếu chính chúng ta hôm nay
Không biết làm gì để sống.

Nhà tù Cộng Sản đã là nơi hun đúc tù nhân thành thi sĩ. Nhưng không cần nhà tù, ngay giữa đời sống bên ngoài, xã hội khắc nghiệt đó cũng vô tình tạo ra bao nhân tài chữ nghĩa. Một trong những nhân tài đó là nhà văn Bùi Ngọc Tấn và ông cũng bị gió cuốn bay đi cùng năm, cùng tháng với Nguyễn Hữu Nhật, cách nhau có mấy ngày.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn phần đông bạn văn ở hải ngoại chỉ biết anh qua văn chương, nhưng đọc sách của anh, nhất là qua cuốn Chuyện Kể Năm Hai Ngàn (Được dịch sang tiếng Anh, Pháp và Đức) ta thấy tư tưởng, ý nghĩ, cách diễn tả của anh rất gần gũi với mình. Văn chương thật sự đã giúp tình cảm của người viết và người đọc cảm thông nhau, nên khi anh mất, những người bạn văn phía bên này cũng thấy tiếc thương. Cái lằn ranh bên kia bên này, đối với những người viết hình như không có nữa, khi họ khám phá ra trong văn chương của nhau đều chuyên chở một ý nghĩa, một cảm xúc.
Nhà văn Nguyên Ngọc đã nhận xét về Bùi Ngọc Tấn như sau: “Sự bình tĩnh, nhân hậu của ngòi bút anh cho thấy đức dũng cảm ở con người của anh cao cả biết dường nào."

Tôi dừng lại ở một gốc sồi, gỡ ra một trong những chiếc bóng đèn màu quấn quanh thân cây, một khúc thơ khác:

Khúc Thơ của một thi sĩ cũng ở Na Uy tặng vợ, thi sĩ Dương kiền.

Trà Mi
Tặng em một đóa trà mi
Đầu xuân tưởng chút tình quê thơm nồng
Tặng em một vệt nắng hồng
Cám ơn trời đất lạnh lùng nơi đây
Tặng em một cánh chim bay
Có bay về cuối trời đầy nhớ thương
Tặng em một chút trầm hương
Trong tâm ngộ chữ vô thường ngát thơm.

Không biết ông viết bài thơ này năm nào, nhưng ông đã để lại đóa hoa trà trên bàn và ông bay theo gió. Dương Kiền bỏ đi năm nay cùng tháng cùng ngày với Phùng Nguyễn. Chắc một già một trẻ đã gặp nhau rồi.

Mùa đông đang rơi trên vai những người homeless, họ phủi mùa đông xuống rồi lầm lũi đi, tôi đi sau họ, nhặt những chiếc lá nhàu, úng nước. Một chiếc lá khá to nhưng trông cũ kỹ nhất, một chiếc lá chắc rơi xuống từ một cây cổ thụ.

Ta đến từ đâu, đâu biết được
Đến đây được biết có Mình thôi
Gặp nhau từ thuở ban sơ ấy
Quấn quít nhau không một phút rời.
Tiền thân dù có dù không có
Ta có Mình khi ta có đời
Có Mình, ta có luôn trời đất
Đã tuyệt vời chưa Thân Xác ơi  
(Một đoạn trong Tạ Từ-Võ Phiến)

Tháng 9 của năm nay, làng văn chương Việt hải ngoại mất đi một người đàn anh, đàn anh của sự nghiệp văn chương và tuổi tác. Dù đám tang có trịnh trọng, có đông người tới đâu thì “cái mất” cũng không thay đổi được. Người ta lo in cuốn sách cuối cùng cho anh, lo đọc to lên những dòng cuối anh viết. Tất cả rồi cũng gấp lại, gấp như những cuốn sách trên giá sách thư viện. Con người của anh không còn hiện diện, ai muốn tìm anh thì không thể đến gõ lên cánh cửa, chờ anh ra mở với một nụ cười nữa. Ngôi nhà ở thành phố Santa Ana chị vẫn ở, bạn bè ở xa tới vẫn ghé thắp tạ anh nén nhang trầm.

Gấp tất cả quyển dầy quyển mỏng lại, như ngày xưa vua gấp khăn áo quý phi. Tìm anh trên những trang mạng, mà những trang mạng thì không hề có mùi thơm của giấy. Buồn thật!

Nhưng khác với tất cả những văn thi sĩ tài hoa trong nước trước 1975, sống cuộc đời tương đối mực thước để giữ cho mình một phong cách nào đó, một thi sĩ làm thơ vừa ngông nghênh vừa bi tráng, có lúc bị gọi là ”phản chiến” cũng đã vừa nằm xuống ở quê nhà, trước Võ Phiến một tháng.



Nếu đời rơi như lá rơi thì chiếc lá Nguyễn Bắc Sơn cũng tự mình cuốn bay vào một góc khuất lấp nào đó, cho dù không nhặt lên được, tôi biết nó cũng tìm được một nơi rơi xuống thích hợp nhất, và ở đó một mình. Thơ của Nguyễn Bắc Sơn một mình một cõi, nhưng vẫn “Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào”

Khi các con khôn lớn thế nào cũng nghe kể chuyện đời ba
Chuyện một nhà thơ yêu hòa bình nên bị đời cho đi khiêng đạn
Khi chiều xuống, bụi mù trời trên ngọn đồi ba đóng
Ba bắt đầu thương nhớ các con ba
Dù ở tiểu khu này ba là tên tiểu tốt
Nhưng các con nên tự hào ở tấm lòng ba
Ôi câu chuyện người anh hùng lỡ vận
Nên bụi đời cùng những kẻ ngu phu
Ðó là câu chuyện đời ba các con cần phải nhớ
Ôi một quãng đời dài lê bước ưu du……..  
(Trong tập thơ Chiến Tranh Việt Nam và Tôi)

Đoạn thơ buồn như một tiếng thở dài.

Tôi vẫn đi trong mùa đông. Tháng mười hai mọi người trong thành phố đang chăng đèn trên nóc giáo đường, trên các khung cửa kính của các gian hàng, trước các cánh cửa của khu gia cư. Những bài hát mừng Giáng Sinh cổ điển vẫn được mang ra phát thanh khắp nơi. Trong tiếng nhạc lồng vào những tiếng chuông nhà thờ.

Tôi nhớ lắm! Nhớ những nóc giáo đường ở quê nhà luôn luôn có gác chuông. Chuông kéo báo sắp tới giờ lễ mỗi buổi sáng, hay lễ buổi chiều.

Nếu buổi trưa không phải là thời khóa biểu của lễ mà chuông nhà thờ kéo, thì đó là tin báo một người trong họ đạo vừa qua đời. Mọi người dù đang bận làm công việc gì cũng ngưng tay, cúi đầu, đọc một lời kinh ngắn cầu cho linh hồn vừa được gọi về. Đó là ý nghĩa của tiếng “Chuông Gọi Hồn”.



Những người bạn văn, bạn thơ của chúng ta bỏ đi trong vòng hai năm nay hình như dồn dập quá, làm cho chúng ta hụt hẫng, chao đảo và thương tiếc.

Chao ôi, là mùa đông!

Tôi tìm lối trở lại xe, tôi nhớ là mình đang trên đường đi tới nhà thờ. Tôi đi xin một lễ cầu hồn cho Phùng Nguyễn, như trước đây tôi đã xin cầu cho Mai Thảo, Đỗ Ngọc Yến, Lê Đình Điểu, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng, Tâm Thanh và Võ Phiến.

Tháng 12/2015
(Chuông Gọi Hồn Ai - For Whom the bell tolls - Ernest Hemingway.)

(*) Phùng Nguyễn (1950- tháng 11-2015 | Tâm Thanh (1940- tháng 4-2014) | Nguyễn Xuân Hoàng (1940- tháng 9-2014) | Nguyễn Hữu Nhật (1942- tháng 12-2014) | Bùi Ngọc Tấn (1934 - tháng 12-2014) | Dương Kiền (1939- tháng 11-2015) | Nguyễn Bắc Sơn (1944- tháng 8-2015) | Võ Phiến (1925 - tháng Chín 2015)

Cái Hộp Kính ở nhà thờ



Tôi đi lễ gần như mỗi sáng ngày thường, trừ hôm nào dậy trễ vì đêm trước mất ngủ.

Phần đông những người đi dự lễ hàng ngày là những người ở tuổi hưu trí, những người già như tôi. Tôi nhớ mặt gần hết mọi người nhưng không biết tên họ, trừ những người Việt Nam. Tôi ở trong danh sách những người phụ giúp bữa trưa cho người già mỗi tháng một lần, vào ngày thứ Ba của tuần thứ hai trong tháng và tôi có tên trong cả danh sách những người cung cấp cookies cho nhà thờ mỗi khi có đám tang trong họ đạo.

Vào mùa đông, khi lá bắt đầu lìa cành, bầu trời xám phủ nóc giáo đường, bãi đậu xe trơn trượt, mọi người tới nhà thờ trong những chiếc áo khoác dầy. Đó là thời điểm “Chuông gọi hồn ai.” Những chiếc bánh cookies được tôi mang tới nhà thờ khi đi lễ sẽ thường xuyên hơn.

Đôi khi trên đường tới nhà thờ tôi trò chuyện với mấy chiếc bánh “ Các em sắp sửa được tham dự vào buổi họp mặt cuối cùng của một người, hãy xinh đẹp và ngon ngọt nghe.” Những chiếc bánh mỉm cười với tôi.

Phần nhiều, tôi không biết người qua đời là ai. Tôi chỉ nghe tiếng nói quen thuộc của một phụ nữ luống tuổi: “ Tú, chúng ta có đám tang vào thứ năm tới, lúc 10:30, chị cho tôi ba tá bánh cookies được không ?”  Vâng, Tôi sẽ mang xuống nhà họp trước lễ 9:00. Cứ mỗi lần như thế, khi gác điện thoại, tôi tự hỏi. Ai là chiếc lá vừa rụng xuống từ thân cây mùa đông? Mình có biết bà hay ông đó không? Chắc mình phải biết. 
 
Đúng, tuần sau, tôi sẽ được nhìn thấy chiếc hình mới bầy trong cái hộp kính gắn trên tường ngay lối cửa vừa bước vào.(Hộp trưng hình người mới qua đời) Có khi tôi kêu lên thảng thốt : “ Ô, ông đó, ( bà đó), người mình vẫn hay cười với họ hoài.” Tôi đọc tên họ ghi dưới bức hình, rõ ràng tôi chỉ biết tên sau khi hình ảnh của họ được bày trong cái hộp kính đó. Rồi tôi nghĩ xa hơn chút nữa: ngày nào đó hình của tôi sẽ được trưng trong chiếc hộp kính này, một người nào đó trong nhà thờ sẽ tới ngắm nghía rồi kêu lên: “Ô, tôi biết bà này”.

Tôi tự hỏi, tại sao chúng ta không biết tên nhau trước khi hình của chúng ta được trưng trong hộp kính. Sao phải đợi cho đến khi “Chuông gọi hồn ai.”

Nhưng chúng ta có thật sự cần biết tên nhau rồi mới mang bánh cookies tới hay giúp việc cho đám tang của nhau. Tôi nghĩ là không. Chỉ cần chúng ta mỉm cười với nhau khi gặp ở trong nhà thờ hay sẵn sàng nói “Có” khi một người nào đó ở bãi đậu xe cần giúp đỡ và chúng ta sẵn sàng mang cookies hay đến phụ giúp đám tang của người trong họ đạo qua đời. Tất cả chỉ cần thế là đáng kể thôi.

Chúa chắc không biết tất cả tên của mỗi chúng ta đâu. Người chỉ gọi chúng ta là “Các anh chị em của tôi”

Mùa đông đang bước tới. Những chùm lá sẽ rụng đến cái lá cuối cùng. Nhưng khi mùa xuân về, cây sẽ mang theo những chiếc lá trẻ trung mạnh mẽ, cho một đời sống mới thay vào.

Chúng ta lần lượt sẽ được trưng hình vào trong chiếc hộp kính đó, ở đấy một thời gian ngắn, rồi người khác lại thay chỗ mình. Thế hệ này, qua thế hệ khác theo thời gian sẽ qua đi.

Chúng ta luôn là anh chị em của nhau, dù ở trong hay ở ngoài cái hộp kính đó.

tmt
Mùa đông -2015
(*) Chuông Gọi Hồn Ai ( For whom the bell tolls-Hemingway)

Monday, November 16, 2015

CÁI BÓNG của MẶT TRĂNG




Sáng nay người phụ nữ đó mở cửa đi lên núi, cô vẫn đi như thế gần như mỗi ngày. Tuần qua cô tự hứa với mình trong tháng mười và hết luôn tháng mười một năm nay, cô sẽ leo núi mỗi ngày, sẽ không bỏ một ngày nào.

Cô đứng trước con đường dẫn lên núi, một mặt trời đỏ như màu chín đỏ của trái cam vừa ngang tầm mắt cô. Một mặt trời tinh khôi và rực rỡ. Cô lấy điện thoại ra chụp ngay một bức ảnh, bức ảnh đẹp, cô rất hài lòng. Cô gửi vội vào email cho anh cô và hai người bạn thân.

Người bạn lớn tuổi nhất trong nhóm, nhận được hình, khen tài nghệ chụp ảnh của cô thật tuyệt vời, chụp mặt trời vừa lên mà thu cả được mặt trăng mười bốn sau mấy lớp mây, mặt trăng như một điểm xanh, rất xa xăm, nhưng rất rõ và đẹp quá, rồi anh lại phân vân hỏi. “Có phải mặt trăng còn sót lại đêm qua hay đó là một tinh cầu nào vừa tình cờ đi ngang nên lọt vào bức hình.”

Anh cô vội cắt nghĩa: “ Điểm xanh không phải mặt trăng, chỉ là phản chiếu trên mặt kiếng iphone của người chụp.

Chị bạn tiếp theo nhận được hình lên tiếng: Nếu anh nhìn thấy mặt trăng, thì chính đó là mặt trăng.

Người anh cô lại chen vào: Sao hôm nay chị nói chuyện cứ như là một “Romantic solipsist” vậy.

Anh bạn khám phá ra được mặt trăng trên tấm hình viết tiếp:
Lâu lắm mới đọc được một câu thật thú vị. “Nếu anh nhìn thấy mặt trăng thì chính là mặt trăng.” Muôn sự tại tâm là thế. Duy ngã. Đó là một câu coi như là thơ cũng được, mà triết học cũng được. Mà thơ triết lý lại càng được!

Hay thật, chỉ có một cái điểm xanh tròn nho nhỏ trên tấm hình chụp mặt trời buổi sáng mà lòng người dao động như vậy. Hình như con người càng ngày càng thiếu thốn cái đẹp của tâm hồn nên khi chạm nhẹ vào nó một chút thì bao nhiêu sợi giây tơ vô hình trong tâm đều rung lên một lúc.

Mặt trời bắt đầu lên cao hơn một chút, cô cũng bước cao hơn một chút, cả hai bao giờ cũng có một khoảng cách. Đôi khi cô thử vươn tay lên như muốn chạm vào mặt trời, nhưng chẳng làm sao với được.
Cô vừa đi vừa thì thầm: Solipsism, Duy Ngã luận, Độc ngã luận. Mấy cái ông Tây, ông Tàu, ông Nhật này lôi thôi quá, kéo luôn hai người đàn ông lôi thôi theo. Thật ra chị ấy chỉ muốn nói giản dị là cái chấm tròn tròn màu xanh trong hình nếu anh nhìn ra nó mặt trăng thì nó là mặt trăng tại sao phải nhìn khác đi, và cũng chẳng cần thiết đặt câu hỏi.

Cái điểm tròn màu xanh trên tấm hình cô mới chụp và mới gửi đi đã thành một đề tài hấp dẫn. Cuộc chuyện bằng email  kéo dài đến cuối ngày, hình như chưa chấm dứt ở đó được.
Sáng hôm sau, cô leo núi nhiếp ảnh gia đó mới ngủ dậy, đọc được thư của anh cô và bạn trao đổi.
Anh cô viết:
“Nếu anh nhìn thấy mặt trăng, thì chính đó là mặt trăng.
Hm, how about this?
Nếu anh nhìn thấy chị T, thì đó chính là chị T.
Are you sure? Có gì không ổn đây!
Nếu anh nhìn thấy mặt trăng, thì chính đó là mặt trăng (đối với anh ) subjectively speaking is ok!
Có lẽ đây cũng là cách chúng ta "nhìn" mọi sự, và chúng ta chỉ "nhìn thấy" những gì đã có sẵn trong lòng  chúng ta...
Phải chăng đây là "chấp hữu" một ngộ nhận mà quan niệm Phật giáo đã nói đến?”

Cô ngồi gõ lóc cóc vài dòng cho mọi người:
“Mới ngủ dậy mà đọc trúng email của ông anh thật là nặng tựa Thái Sơn. (hay là cứ nghĩ nó là lông hồng thì nó sẽ nhẹ tựa hồng mao?” 
Tiếp theo anh bạn lớn tuổi nhất vào cuộc với một thư dài:
“Đúng là tôi vừa thức dậy, và đọc được ý hay của hai anh em cô viết, có thể nặng như Thái Sơn, cũng có thể nhẹ như lông hồng.
Tôi đã nói "muôn sự tại tâm", chính do cái tâm của mình khi đọc mà nội dung ấy nặng hay nhẹ.
Câu nói "Anh nhìn thấy mặt trăng thì đó là mặt trăng" thâm thúy ở chỗ diễn tả đúng cái thực tại của tâm. Tôi nhìn bức ảnh gửi đến, thấy mặt trời đang mọc, nhưng đưa mắt nhìn cả bầu trời bao la thì thấy một điểm tròn màu xanh, và trong tâm liền nghĩ đó là vầng trăng mười bốn mà mình đã thấy hồi đầu đêm, đến giờ phút này nó còn nhìn được như một chấm màu xanh lơ lửng trên nền trời vừa sáng. Tất cả tâm tưởng của tôi lúc đó đều cho đó chính là trăng, vậy thì cái chấm sáng ấy đối với tôi còn là cái gì khác nữa ngoài TRĂNG?
Người đi đường trong lúc nhập nhoạng tối thấy mẩu giây thừng trên mặt đất hoảng hồn tưởng là con rắn vội vàng nhảy tránh, thì tất cả nhận thức của người ấy còn là gì khác nữa, ngoài RẮN?
Cả hai trường hợp đều do TƯỞNG mà ra, cái Tâm của chúng ta được xây dựng do những cái "tưởng" ấy, và coi đó là sự thật. Trường hợp của tôi, sau khi tưởng chấm đó là trăng thì có sự nghi ngờ, nhưng trước đó 5 giây thì hoàn toàn cho đó là trăng, và cái chấm sáng màu xanh đó chính là trăng đối với tôi. Nhưng có bạn đã nhìn ra được: "tưởng" cái gì thì ra cái ấy.
Đạo Phật nhìn ra cái MÊ LẦM của con người qua cái nhìn bị khúc xạ bởi cái tâm loạn của chúng ta, mới khuyên phải làm cho cái tâm tĩnh lại, như một tấm gương lau chùi hết bụi bặm trở nên sáng trưng. Quá trình đó gọi là TU.
Tôi muốn kiếm một cái am để vô ở sau này là vì thế (nhưng "muốn" cũng là mê lầm nữa đó!)

Hấp dẫn quá! Cô vội gõ thêm, mách nhỏ các anh chị bằng câu thơ của Ba Tiêu:
There is nothing you can see that is not a flower; there is nothing you can think that is not the moon.

 Nhìn đâu cũng thấy hoa hàm tiếu
Tràn ngập tâm tư một bóng trăng- (HV dịch)

Nhìn đâu cũng một màu hoa
Bóng nào cũng tưởng như là bóng trăng (tmt dịch)

Hóa ra ông thi sĩ này chỉ nhìn thấy hoa và nghĩ đến trăng. Đúng là con người của “trăng và hoa”. Cô gửi thư đi, rồi cúi xuống buộc lại dây giầy. Cô sửa soạn cuộc leo núi đầu ngày, Bây giờ mới là cuối tháng mười, cô còn nguyên một tháng trước mặt nữa để nhìn mặt trăng giữa một bình minh.

Chị bạn viết xuống câu:“Nếu anh nhìn thấy mặt trăng, thì chính đó là mặt trăng.” vẫn giữ im lặng, chị đang nhớ đến một câu thơ:
“Có lúc tưởng chỉ để rơi tàn lửa
Tay vô tình gây một đám cháy to” (Dối trá-Xuân Diệu)

Đây không là tàn lửa, đây là một cái đốm xanh nhỏ nhoi trên bức hình, nhưng có thể thành một đám lửa đốt cháy những hàng cây trên ngọn núi mà người phụ nữ đó đang sửa soạn bước vào. Ngọn lửa của đám cháy văn chương, chữ nghĩa, tư tưởng và tình bạn này có tiếng kêu khe khẽ của củi đang se mình trở thành than và hơi thở của lửa phà ra nhè nhẹ nhưng vô cùng ấm áp.

Thursday, November 5, 2015

Hoa tai


Khói xanh bốc mặt hồ
mặt trời chưa thức dậy
núi nghiêng mình qua bờ
rủ em sang rửa mặt
đánh rơi chiếc hoa tai
anh tặng em mùa hạ
em nhờ nước giữ hộ
mối tình của hai ta.

Tháng 11/2/2015

Saturday, October 31, 2015

Giải Mây Trôi




















Một mai tôi chết rồi sao nữa
mây vẫn bay và nước vẫn xuôi
cây xanh vẫn cứ xanh màu mãi
hay có thay màu như tóc tôi

Trái đất sẽ trăm ngàn khác biệt
mỗi ngày người lạ lẫm nhìn nhau
chuyến xe thiên cổ lăn vô hướng
về hướng nào cũng chẳng còn tôi

Đứa cháu năm xưa rồi sẽ lớn
nói cười thông thái hay dại khờ
người đi bên cạnh bằng xương thịt
hay tình nhân là con rô bô
bàn tay nắm có truyền hơi ấm
hay một mảnh nhôm bật tiếng cười

Một mai tôi chết rồi sao nữa
người có dọn lên ở với trời
có ăn có uống toàn không khí
miệng người có ngậm giải mây trôi

Mặt đất rồi chẳng còn ai ở
cũng chẳng còn ai mơ thiên đường
ai cũng sống trên trăm năm tuổi
theo mảnh tinh hà bay muôn phương

Người sẽ bay bay trong không gian
người như một đốm lửa không tàn
ngơ ngác hỏi mình là ai nhỉ
ta trong tinh cầu hay áo quan.


Tháng 10/31/2015