Friday, March 9, 2018

Nối Vòng Tay Lớn


 Sáng nay trời mưa nhỏ nhưng lạnh và mây phủ âm u, tôi ngại không dám đi Lễ buổi sáng thường ngày, vì nghĩ phải đi bộ qua cái bãi đậu xe rộng để vào trong nhà thờ dễ bị cảm lạnh, tôi tới bàn thờ Đức Mẹ dâng lời cầu bình an cho một ngày rồi đi pha một bình trà cúc nhâm nhi, mở máy ra đọc tin tức. Mở trang mạng BBC mới biết hôm nay là ngày mồng 8 tháng 3, ngày Phụ Nữ Quốc Tế, nhưng ở Mỹ, hàng xóm chung quanh thấy chẳng ai để ý trong khi ở Việt Nam đang ăn mừng, cho biết hoa hồng đã lên giá vượt mức bình thường.
Tôi đọc được những tiểu đề trên trang mạng BBC như:

Ngày mồng 8 tháng 3 của những phụ nữ bị mất đất
Cùng BBC thăm USS Carl Vinson ngoài biển khơi Đà Nẵng
Không để quá khứ đè bóng lên hiện tại và tương lai
Nối Vòng Tay Lớn với ban nhạc Hạm Đội 7
Phi Công Việt Mỹ-Kẻ thù xưa, anh em nay.

Trong những tiểu đề này, tôi chú ý nhất là dòng chữ Nối Vòng Tay Lớn với ban nhạc Hạm Đội 7

Tôi bỏ nước ra đi theo nhiệm sở vào ngày 21/4/75 nên không có cơ hội chứng kiến những hoảng loạn đau thương của ngày 30/4  hôm đó. Tôi nhớ, mình đã nhắm mắt lại và nghe radio của ai đó mở ra ở trong trại tỵ nạn, tôi cũng hình dung ra được một thành phố đang đổi chủ như thế nào. Ông anh họ tôi người bị kẹt lại, sau này sang định cư ở Mỹ, đã kể cho tôi nghe về cái giây phút lịch sử đó: Có lửa của những đám cháy, có máu của người dân và quân nhân VNCH, có tiếng súng nổ khắp nơi, có tiếng kêu khóc và có tiếng hát vui mừng. Bài hát “Nối Vòng Tay Lớn” được chính Trịnh Công Sơn và những người bạn theo Cộng Sản của anh mang đàn đến hát ở đài phát thanh ngay sau khi chính phủ mới đọc bản đầu hàng của tướng Dương văn Minh.
Ông anh kể lại trong giọng nói đầy đau đớn và uất hận về một nhạc sĩ thần tượng của những người tuổi trẻ sinh viên,học sinh Việt Nam vào thời điểm ấy.
'Nối vòng tay lớn' được cho là sáng tác vào khoảng năm 1968, và được hát lần đầu vào năm 1970.
Văn bản bài hát được in trong nhạc tập Kinh Việt Nam, ra mắt năm 1970, tập hợp 12 ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn, với bìa của họa sĩ Đinh Cường.
Tác giả đã hát ca khúc này, bày tỏ niềm hân hoan khi đất nước thống nhất, vào đúng trưa ngày 30/4/1975 tại Đài phát thanh Sài Gòn khi cuộc chiến Việt Nam đến hồi kết. (trích từ BBC)
Sau hơn 40 năm đất nước thống nhất câu hát Biển xanh sông gấm nối liền một vòng tử sinh, được hát lên bằng giọng hát của các Thủy Quân Mỹ trên Hàng Không Mẫu Hạm USS Carl Vinson với sự phụ họa của dân chúng thành phố Đà Nẵng.
Tôi nhìn hình ảnh trên máy, nghe tiếng hát lơ lớ của một nữ Thủy Quân Mỹ, nhìn những người trẻ Việt Nam tay cầm phone hát phụ họa theo với một cảm xúc pha trộn vào nhau không rõ rệt trong tôi. Những người Việt đang đứng hát đó còn rất trẻ, tôi đoán người nhiều tuổi nhất chắc cũng chưa đến 50 tuổi. Như vậy là họ là những người còn rất bé ở năm 1975 hay mới sanh ra những năm sau đó. Họ yêu nước Việt Nam chắc khác cách yêu nước của cha ông họ (Dù cha ông họ ở phía Quốc Gia hay phía Cộng Sản)
Nếu anh chị xem những tấm hình sinh hoạt trong 4 ngày của những quân nhân Mỹ của hàng không mẫu hạm đó thì anh chị sẽ thấy những khuôn mặt hạnh phúc vô cùng của những người trẻ Việt Nam. Thủy thủ đoàn có 5,800 người và 3,000 người trong số họ đã vào thành phố thăm viếng, vui chơi và làm công tác thiện nguyện. Họ đến những trung tâm bảo trợ nạn nhân chất độc da cam,( Hòa Nhơn,Hòa Vang, Đà Nẵng) trung tâm nuôi dưỡng người tâm thần Đà Nẵng, vui chơi, đàn hát với các bạn trẻ. Những khuôn mặt của các quân nhân Mỹ đó toát lên một vẻ chân thật, trong sáng và đầy thiện chí. Họ hát tiếng Việt để hòa đồng với người Việt. Rồi ngắm nhìn những khuôn mặt các em ở khu da cam, khu tâm thần và những người trẻ Việt trong thành phố bao vây chung quanh họ, những khuôn mặt rạng người đầy niềm tin vào một sự tốt lành, sự ngay thật.
Có người đã vui quá, ngây thơ thốt lên: sao tầu không đậu lại luôn đi.
Tôi đoán là họ đã không còn bị ám ảnh trong đầu về hai chữ “giặc Mỹ” nữa, không còn nhớ những điều rất “ác” về lính Mỹ mà họ được học từ bé nữa. Họ chỉ nhìn thấy một hình ảnh “Hoành tráng” đầy thiện chí ,đầy từ tâm trên những nét mặt của những người Mỹ này.
Vì hạnh phúc quá họ không đặt câu hỏi đám “giặc  Mỹ” này có phải đang làm công tác dân vận hay không? Họ có đang đóng một vở kịch nào đó hay không? Ca sĩ được tập luyện bài hát cả 2 tháng để hát hò giao lưu hữu nghị đang mang một sứ mệnh gì?
Tôi không muốn nghĩ quá xa thêm nữa. Các báo chí trong nước đang hân hoan ca tụng mối bang giao giữa Việt Nam và Mỹ, cựu đại tá CS Anh Ngọc nói với BBC Tiếng Việt "Quá khứ không thay đổi được, nhưng chúng ta có thể định hình tương lai. Không để quá khứ đè bóng lên hiện tại và tương lai được." Có phải người CS đã và đang yêu giặc Mỹ?
Thế tại sao chẳng có “ông lớn” nào ra đón USS Carl Vinson, ngay cả đến “quan đầu tỉnh” cũng không thấy. Phải chăng họ sợ ông vua Trung Hoa từ xa đang quan sát bằng nét mặt khó chịu.
Khi tôi vào trang mạng Tiền Phong (Cơ quan trung ương của đoàn TNCS Hồ Chí Minh) tôi thấy ngay một cái tựa rất bắt mắt:
Những bóng hồng trên tàu sân bay Mỹ USS Carl Vinson và tiếp theo đó là những hình ảnh các nữ hải quân trong quân phục trắng toát hoặc trong áo thung màu cam đi làm thiện nguyện. Toàn bộ hình ảnh cho thấy cả khách lẫn chủ nhà ai ai cũng rạng rỡ, cũng có nụ cười trên môi. Những nụ cười cho đi và những nụ cười đón nhận.
Nguyên ngày hôm nay tôi cứ xem đi xem lại những tấm hình về sinh hoạt của hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson và dân chúng trên những trang mạng trong nước, thấy trang nào cũng tràn ngập hạnh phúc, tràn ngập những nụ cười, những lời ca tụng “giặc Mỹ”.

Với đầu óc của tôi, tôi không thấu đáo được những vấn đề thâm sâu của chính trị, đằng sau con tầu khổng lồ đó sẽ tiếp theo là những diễn tiến gì. Tôi chỉ biết cầu mong cho những thanh niên thiếu nữ này họ được hưởng một nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam tốt đẹp an bình thật sự theo nghĩa đúng nhất của nó, để những đôi môi đó khi hát câu:Biển xanh sông gấm nối liền một vòng tử sinh. Thì sẽ hát là: Biển xanh sông gấm nối liền một vòng Việt Nam.

Cái vòng Việt Nam cả hơn 50 năm nay đến bây giờ vẫn gẫy ra từng khúc.

tmt
Ngày 9 tháng 3/2018


.

Monday, March 5, 2018

Bệnh Viện và Nghĩa Trang

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018

Chị thì thầm vào tai anh:
“Còn mấy hôm nữa là rằm tháng Giêng chắc mình phải về nhà chứ.”

 Anh kéo chiếc mền mỏng lên ngang ngực, chiếc mền ngắn quá, lòi cả nửa ống chân ra ngoài. Anh nhìn chung quanh một vòng, ngượng ngùng co chân lại.

“Về sao được em, phải chờ chứ, còn nước còn tát, mấy hôm nay thằng bé cũng thấy khá hơn một chút.”

 Hai vợ chồng đang nằm ngủ ngay trước cửa Bệnh Viện Ung Thư, con trai họ 12 tuổi kiếm được một chỗ nằm chung một giường với một đứa trẻ khác bên trong, (sau khi anh chị đưa cho y tá trực ở đó hai lần hai cái phong bì.) Dưới gầm giường thì có bố mẹ của đứa bé kia rồi, không còn chỗ cho anh chị nữa.

 Họ lên đây từ trước Tết, đợi mãi mới tới phiên con được khám. Trong khi chờ thì cứ ngồi, nằm, ngay ở hành lang bệnh viện. Anh chị không phải là cặp vợ chồng duy nhất ngủ ở ngoài này. Số người chờ khám cho thân nhân hay chờ khám cho chính mình nhiều hơn số giường của bệnh viện có, nên người chờ đợi, ăn, ngủ, tràn lan ra tới hành lang. 

Hình-Nằm Chờ Khám Bệnh

Trời mưa lụt, nước tràn ngập cả trong phòng đợi, người ngồi, kẻ nằm trên những chiếc ghế nhựa trông thật thảm thương. Ngày khô thì chiếu trải la liệt dưới đất. Bệnh Viện mà trông như trại tỵ nạn. 
Hình-Nước lụt trong phòng chờ ở Bệnh Viện Ung Thư-Hà nội 

 
Hình- Bệnh Viện Ung Thư Hà Nội

Anh chị từ Hòa Bình mang con về Hà Nội chạy chữa, thằng bé 12 tuổi đang đi học bỗng ngã bệnh, chữa mãi Bác Sĩ tỉnh nhà không khỏi, thử máu, chụp hình mới biết là bị ung thư màng óc.

Chị lại thì thầm:
“Tết mình đã không có mặt ở nhà để cúng ông bà, thì Rằm cũng phải về cúng Phật chứ anh. Hay em ở lại với con, anh về mấy hôm đi.”

“Anh về cũng chẳng an tâm được. Mấy hôm ngủ ngoài sương thấy em đã bắt đầu ho.Thôi, Trời Phật cũng thông cảm cho mình.”

 Chị im lặng một lúc, lại ngập ngừng nói:
“Thôi anh cứ yên tâm về đi, còn bà nội thằng Tí ở nhà nữa, anh về đi kẻo mẹ trông, em biết là mẹ mong anh về lắm.”

Người chồng ngồi hẳn dậy, co hai chân lên vòng tay ôm qua đầu gối, thở dài.

“Ừ, chắc anh nên về, em nói đúng, bà nội thằng Tí đang mong tin lắm. Anh đã chia tiền ra từng gói nhỏ để em tiện chi tiêu. Tiền trả cho Bệnh Viện chữa trị, tiền đưa bác sĩ thì anh để riêng, tiền đưa y tá, tiền lao công anh cũng để riêng.”

Người vợ ngồi hẳn dậy, quấn lại cái chăn cho gọn, thu xếp mấy cái túi đựng cả một gia đình lưu động của mình. Chị nhìn chung quanh một vùng bao quát, trong ánh nắng sớm mai yên tĩnh mọi người chưa thức dậy hết. Họ nằm ngang, nằm dọc, hay xoay chân ngược chiều nhau. Những bàn chân gầy gò, và những cái đầu xơ xác tóc, họ đang ngủ hay đã thức rồi mà vẫn còn nằm im lo lắng bất an. Mặt trời sẽ lên, thêm một ngày chờ đợi, đến bao giờ mới tới phiên mình, hay phiên của người thân mình. Số tiền mang trong túi, cài hai ba cái kim cho chặt, liệu có đủ trả tiền chạy chữa, tiền thuốc và tiền phong bì không?

Nói đến phong bì chị bỗng nhớ, hỏi anh:
“Tiền anh lo đủ rồi nhưng anh quên chưa mua phong bì cho em. Đưa thẳng tiền mặt ra ai đứng gần cũng nhìn thấy, không tiện đâu.”

Anh ngẩn người ra, ừ nhỉ mấy hôm nay bận quá, cứ lo chỗ ăn chỗ ngủ cho con bên trong bệnh viện, cho hai vợ chồng ngoài hành lang, anh quên hẳn việc phải mua sẵn một lố phong bì. Anh nhìn trước nhìn sau thấy một xấp báo còn mới, ai đó vứt sang chỗ anh chị nằm. Anh nhặt lên nói với chị:
“Báo còn mới, em cứ lấy con dao, rọc vuông vức rồi gói tiền vào đó cũng được. Nhưng phải nhớ để riêng vào túi trong, túi ngoài, kẻo nhầm của người này lại đưa cho người kia.”

Chị cười nhẹ:
“Anh đừng lo, tiền thì em cẩn thận lắm.”

Chị đón xấp báo còn mới trong tay anh, báo trong tay thì dĩ nhiên là chữ trước mắt, chị đọc qua một chút trước khi đi tìm dao rọc. Sau mấy phút chị ngẩn người ra, để rơi tờ báo xuống lòng. Anh thấy lạ hỏi:
“Tin gì vậy em?” Chị không nói, đưa tờ báo cho anh.

Báo chí trong nước cho hay, chính quyền thành phố Hà Nội hôm 1/2 công bố quy hoạch được thủ tướng phê duyệt về xây nghĩa trang “phục vụ nhu cầu an táng cán bộ cao cấp của đảng và nhà nước; các anh hùng, danh nhân của đất nước”.

Tin cho hay, nghĩa trang Yên Trung nằm dưới chân núi Ba Vì, cách trung tâm Hà Nội 40 cây số về phía Tây, giáp Vườn Quốc Gia Ba Vì; phía Đông giáp đồi núi và đường cao tốc Hòa Lạc-Hòa Bình; phía Nam giáp đồi núi và khu dân cư.

Tổng diện tích nghĩa trang là 120 hécta, gồm khu an táng 72 hécta, với 2,200 – 2,500 ngôi mộ, mỗi ngôi mộ có khuôn viên 25-35 mét vuông và khu đệm cây xanh cảnh quan trên 47 hécta, có sức chứa 5,000 người.


Anh đọc tiếp ở một trang khác:

Vẫn theo các báo, với tổng diện tích 120 hectare, tương đương một phường lớn ở nội thành Hà Nội, dự án có vị trí ở huyện Thạch Thất, dưới chân núi Ba Vì, cách trung tâm Hà Nội 40 kilomet về phía tây. Thông tin từ bản quy hoạch cho thấy sẽ có 105 hộ dân phải di dời để nhường chỗ cho dự án.


Anh đọc xong nhìn sang chị, thấy chị vẫn thẫn thờ nhìn mông lung ra một nơi xa lắc xa lơ nào đó. Anh hỏi:
“Sao vậy em, nhà nước xây nghĩa trang thì dính dáng gì tới mình mà em buồn quá vậy?”

Chị quay lại nhìn chồng, hai mắt mở to:
“Sao mấy ông lớn không nghĩ đến việc xây thêm mấy cái bệnh viện cho người đau ốm, xây thêm trường học cho trẻ em? Họ bỏ ra tới 1,400 tỷ đồng để lo “chôn “ những người chưa chết. Rồi lại thêm 105 gia đình phải mất nhà mất cửa cho họ thêm chỗ. Anh nhìn đi, cả bao nhiêu năm nay bệnh nhân cũng như người thân của bệnh nhân nằm màn trời chiếu đất trước cửa bệnh viện. Trẻ con nghèo không đủ cơm đã đành ngay cả trường lớp cũng thiếu thốn. Có ông lớn nào quan tâm tới không?”

Anh nhìn vợ với cặp mắt thương hại, nói nhỏ:
“Thế bây giờ em định làm gì, em cầm biển ngữ đi biểu tình đòi nhà nước xây bệnh viện, trường học thay vì xây nghĩa trang cho các ông lớn hả. Em có muốn vào tù vì tội chống phá nhà nước, trong khi con em đang bị ung thư không?”

Chị nhìn anh một lúc, không trả lời. Hai con mắt chị ánh lên một nét giận dữ, chị mở tung những cái giỏ ra tìm con dao, chị nín thở rọc tờ báo ra từng miếng nhỏ để làm những cái phong bì, chị dằn mạnh từng nhát dao đi qua những hàng chữ:
 “nghĩa trang,
“phục vụ nhu cầu an táng cán bộ cao cấp của đảng và nhà nước”
“Nguồn vốn dự kiến hơn 1,430 tỷ đồng (hơn $63 triệu) sẽ lấy từ ngân sách nhà nước.”
“105 hộ dân phải di dời để nhường chỗ cho dự án.” 

Hình- Mô hình nghĩa trang cho các cán bộ cao cấp

Chị cắt ngang, cắt dọc tờ báo tưởng như cắt đứt được những dự án làm chị uất ức. Chị cắt được hơn mười cái phong bì, chia ra bốn túi khác nhau, cho bác sĩ, y tá và lao công. Chị biết, muốn cứu con chị thì không thể nào tránh né được cái khoản chi trả thêm này.

Chị nhìn anh đang thu xếp về nhà với mẹ để kịp cúng Rằm. Thật ra chị biết, cúng Rằm chỉ là phụ, việc chính là anh về nhà chạy thêm tiền, số tiền anh chị đem theo được so với số tiền sẽ phải dùng tới cách xa nhau nhiều quá. Nghĩ đến những món nợ sẽ phải trả, chị thấy như có một khối đá đè lên ngực.

Hai con mắt chị vẫn còn ánh lên những tia giận dữ, cái giận dữ của một người hoàn toàn bất lực trước một việc xấu mà sức mình không làm gì được. Một khu nghĩa trang 5000 huyệt mộ. Quan chức cao cấp Đảng ở đâu mà nhiều thế? Chắc chắn các đại gia sẽ có phần mộ ở đây. Có khi cả ca sĩ nổi tiếng có tiền cũng dọn vào. Chưa chắc các danh nhân và anh hùng tử sĩ đã có chỗ, vì phần đông gia đình họ nghèo và họ đã tắt tiếng nói (may ra có một tấm bia chung).

Chị kêu thầm trong ngực. “Bệnh Viện, Trường Học và Nghĩa Trang. Một cái cho người sống, một cái cho kẻ (chưa) chết. Cái nào cần thiết hơn.” Nước mắt chị ứa ra.

Có ai trả lời cho chị không? 

tmt
Ngày 2/25/2018

Friday, March 2, 2018

Trà và Tháng Giêng



 Ngụm trà đầu ngày mặt trời buổi sáng
đóa tuyết nào rơi trên một cành thông
tháng Giêng non thơm như một đóa hồng
sợi tóc trắng rơi mềm trên vai mỏng

chút ngọt ngào giấu vào trong vị chát
những cánh trà pha loãng một bình minh
em vớt tuổi trong chiếc bình cổ tích
rót vào ly sóng sánh một dòng sông

nước trà xanh còn bốc hơi trong tách
bàn tay mùa đông ôm ấm mùa xuân
tháng Giêng tròn như một nụ hôn cong
những đốm đồi mồi bỗng hồng như phấn

Tháng Giêng về cùng mặt trời  rất mới
buổi sáng trong suốt như một nỗi không
đóa tuyết vừa tan trên một nhánh thông
và cả em cũng không còn hiện hữu.

tmt
Tháng Giêng Mậu Tuất- 2/26/2018

Monday, February 26, 2018

Niềm Vui Năm Mới

Thứ Bảy, 24 tháng 2, 2018

Con bà là người của một đất khác tới đánh nhau với chúng tôi. 
Nhưng khi anh ấy chết trên đất này anh ấy là con của chúng tôi.

Thật ra cái niềm vui này bắt đầu từ cuối tháng 10 năm ngoái. Nó giống như một hạt giống được gieo xuống mặt đất lúc còn mùa thu, chờ mùa xuân đến sẽ nẩy mầm.

Giống như một người nhà nông, chăm chăm hướng về cánh đồng, tôi mở cả ngũ quan ra chờ cái mầm xanh bé tí chui lên khỏi mặt đất trong dịp xuân về. Mặt đất Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Cỏ sẽ xanh, hoa sẽ mọc, những người hy sinh mạng mình cho đất nước sẽ lại được mồ yên, mả đẹp như xưa.

Tháng 10 năm ngoái ( 10/2017) Hội VAF (Vietnamese American Foundation - Hội Người Mỹ gốc Việt) đã vận động được chính phủ Hoa Kỳ thỏa thuận với chính phủ Việt Nam cho chính thức trùng tu lại nghĩa trang quân đội Biên Hòa.

Bản tin trong báo Người Việt viết:
“Sau nhiều năm vận động chính giới và chính phủ Hoa Kỳ can thiệp về vấn đề trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, với kết quả được 19 dân biểu Hạ Viện đồng thuận gửi văn thư yêu cầu Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ ủng hộ Vietnamese American Foundation (VAF).”

Như tất cả những người Việt Nam Cộng Hòa bỏ nước chạy Cộng Sản ngày 30/4, thất tán mười phương. Ai ai cũng vừa chạy vừa quay đầu nhìn lại. Chúng ta nhìn thành phố, nhìn khu xóm, nhìn ngôi nhà thân yêu, đang bốc cháy hay đang bị người khác chiếm đoạt. Rất nhiều người trong chúng ta còn ngoái đầu nhìn lại những nấm mồ. Những nghĩa trang chôn cất người thân yêu rồi đây sẽ bị tàn phá theo thời gian, sẽ thành những nấm mồ vô chủ. Đau đớn nhất là những nấm mồ tử sĩ. Vì chúng ta biết ngay cả những người lính quốc gia đã chết rồi, họ vẫn bị coi là kẻ thù truyền kiếp của Cộng Sản.
 Điều đó không sai, cả mấy chục năm sau, mỗi khi nhắc đến những người Cộng Hòa còn sống sót thì họ gọi là “Ngụy” và những người trong quân ngũ thì gọi là “Lính Ngụy”.

Những ngôi mộ lính ngụy vẫn không được phép chính thức săn sóc, trùng tu.

Nhà nước Cộng Sản mở cửa ra đón người Việt hải ngoại về, nhưng vẫn làm khó khăn cho những người về viếng và trùng tu mộ tử sĩ.

Chiến tranh là một cái gì xấu xí và vô nhân. Nhưng khi đã tàn cuộc chiến rồi mới nhìn rõ được cái “tâm” con người đối xử với nhau như thế nào. Cái tâm của người thắng đối với kẻ thua.

Trong một lần chúng tôi du lịch ở Thổ Nhĩ Kỳ, người hướng dẫn đưa đi qua một nghĩa trang và kể cho nghe về một câu chuyện lịch sử chiến tranh:

Trong nghĩa trang Lone Pine Cemetery ở Gallipoli thuộc Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey), một nước theo đạo Hồi, nghĩa trang được lập ra để chôn chung những lính liên quân Úc, Anh, Tân Tây Lan đã đánh nhau với quân Thổ trong Đệ I Thế Chiến và đã tử trận tại đây, nghĩa trang này đã chôn cả ngàn quân vừa liên quân vừa Thổ quân. Vị Tổng Thống đầu tiên của Thổ Nhĩ Kỳ (từng là Tướng chỉ huy những trận đánh) Mustafa Kemal Ataturk người đã có cái “tâm” gửi một thông điệp cho tất cả những quân nhân hy sinh trên đất Thổ trong cuộc chiến giữa Thổ và liên quân Úc, Anh, Tân Tây Lan. Đối với ông mỗi người lính ra trận ở bất cứ phía bên nào cũng là một người anh hùng.

Those heroes that shed their blood and lost their lives….. You are now lying in the soil of a friendly country. Therefore rest in peace.There is no difference between the Johnnies and the Mehmets to us where they lie side by side in this country of ours. You, the mothers, who sent their sons from far away countries, wipe away your tears. Your sons are now lying in our bosom and are in peace . After having lost their lives on this land, they have become our sons as well.

(Johnnies: liên quân: Anh, Úc, Tân Tây Lan
Mehmets: lính Thổ Nhĩ Kỳ. )
 
Những người anh hùng đó
Máu chàng đã chẩy xuống
Xin hãy nằm xuống đây
Mảnh đất thân thiện này

Xin hãy nằm cạnh nhau
Đừng đi đâu về đâu

Dù chàng là ai nữa
Lính của phía bên nào
Chàng là lính Liên Quân
Hay một người lính Thổ
Chàng đã nằm xuống đây
Đã nằm trong đất này
Mặt đất đầy thân thiện
Đừng đi đâu về đâu

Những người mẹ xa xôi
Xin lau dòng lệ chẩy
Con bà đã tới đây
Con bà đã nằm xuống
Thân trong ngực đất này

Đất đã mở vòng tay
Ôm con vào lòng đất
Mặt đất thân thiện này
Con bà sau khi mất
đã thành con chúng tôi. (tmt dịch) 

Ôi “cái tâm” của vị Tướng này đẹp đến thế nào mới thốt ra những lời vàng ngọc như thế. Cho đến bây giờ bất cứ ai được đọc hay nghe những lời này  cũng nao nao trong lòng khó cầm được nước mắt.
Ở trên đất nước Việt Nam. Người miền Nam người miền Bắc đánh nhau, cùng chết, nhưng không bao giờ được chôn cùng nhau. Những ngôi mộ của anh hùng miền Nam thì điêu tàn hoang phế và những người lính Việt Nam cộng Hòa còn sống hay đã chết đều được gọi là “Lính Ngụy”.

Mùa Xuân đang tới, với những lời hứa hẹn tốt đẹp giữa hội VAF và những quan chức trong nước, với sự trợ giúp của chính phủ Hoa Kỳ, chúng ta hy vọng nghĩa trang Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa được chính thức trùng tu trong một ngày rất gần. Những anh hùng tử sĩ này đáng được tôn trọng vì họ đã đổ máu và hy sinh mạng sống cho chính đất nước mình.

Hãy nhắm mắt lại và tưởng tượng những nấm mộ trắng toát, hàng tiếp hàng, những mảng cỏ xanh non, những bụi hoa nho nhỏ và mùi khói nhang bay thơm ngát lẫn trong gió xuân.

HÌNH- Sông Thạch Hãn-Quảng Trị

Đêm qua tôi đã có một giấc mơ thật đẹp. Tôi nằm mơ thấy mình đi bộ bên một dòng sông vào sáng Mồng Một Tết, tôi đã dừng lại trước một tấm bia Tưởng Niệm dựng giữa khu đẹp nhất của bờ sông đó, đọc được:

“Nước trong sông Thạch Hãn này đã một thời hòa chung dòng máu của những anh hùng Nam Bắc.”

Ôi, đất nước Việt thân yêu của tôi, những dòng sông lịch sử của tôi!

Ôi, những anh hùng tử sĩ của cả hai miền Nam Bắc đã hy sinh cho đất nước này.

­­­­­­
tmt

 Xuân Mậu Tuất-2018

(*) Dù không được chính thức cho phép, nhưng với sự cố gắng của hội VAF trong số 16,000 mộ quân nhân chôn cất ở NTQĐ Biên Hòa, hội và một số tư nhân đã trùng tu được gần 6000 ngôi mộ trong thời gian hơn 2 năm (Tháng 5/2014 tới tháng 12/2016).

Friday, February 16, 2018

Anh Hãy Cùng Em Về Với Tháng Giêng

Thơ Trần Mộng Tú

Em mở cửa đón ngày đầu của tháng Giêng/có vạt nắng len vội vào cánh cửa/câu thơ dán trên mặt giấy điều còn thơm mùi nhang đêm giao thừa/ Mùa xuân đang chao nghiêng bên hồ/ đất trời lồng lộng lòng người mang mang/ nheo mắt lại nhìn quê nhà xa tắp/em muốn thổi mùa Xuân về bên ấy/để mùa Xuân xóa đi những ký ức không vui/ Năm mươi năm một bình mực đen đổ trên trang sử Việt ngậm ngùi/người ta vẫn khuấy lên rồi nạm vàng bằng những điều giả dối.

Em thắp thêm nhang cho thềm trước vườn sau/ cầu xin cho đất quê nhà đất quê người an lạc/cầu cho anh cầu cho em và cho con cháu chúng mình/ sống từng ngày là những con người lương hảo/ từng ngày nói lời chân thật/ từng ngày lấy lòng hiền mang tặng cho nhau/ con cháu chúng ta được sống và lớn lên như tre trúc/ tính thẳng ngay và ruột rỗng oán thù/ em và anh khi về với mẹ với cha cũng sẽ mang theo hành trang là hai bàn tay trắng mở/ nếu có nắm vào, chỉ nắm một câu Thơ.

Anh ơi tháng Giêng đang cùng em mặc cả/ em xinTháng Giêng cho em một hộp phấn đủ màu để em tô lên má và rắc lên tóc trắng/ để em nhuộm ngày hồng nhuộm tháng xanh cho cả kẻ dữ người hiền/ cả nhân gian em vẽ vào một bức tranh yên/ đường ranh giới bị nhòe dưới phấn. Tất cả sẽ sống trong một ngôi làng Hạnh Phúc.

Tháng Giêng đang xin nắm tay em dắt em cùng trở về thời xa xưa ấy/ bàn chân em đã bước cao bước thấp/ nhưng tay em vẫn cầm một cành đào có bài thơ của Vũ Đình Liên.

Anh hãy cùng em về với tháng Giêng.

tmt
Mồng Một tháng Giêng Mậu Tuất
Ngày 16/2/2018

Saturday, February 3, 2018

CHIẾC GHẾ TRỐNG (tưởng nhớ Trần Văn Nam)


Thứ Bảy, 3 tháng 2, 2018


Hiên Café Factory, từ trái : Vương Trùng Dương, Trần Yên Hòa, 
Đạm Thạch, Thành Tôn, Trần Văn Nam.

Hôm nay tôi đến sớm nhất, kéo cho mình một chiếc ghế ngồi xuống chờ các bạn. Sáng chủ nhật của ngày mùa đông đất trời se lạnh, một chút nắng yếu ớt còn trốn trên ngọn cây. Tôi mặc áo khoác thật dầy mà vẫn lạnh. Quán cà phê đã bắt đầu đông, tiếng ly tách chạm nhau khe khẽ trên quầy nghe thân mật ấm áp, mùi cà phê đã thơm nhè nhẹ trong không gian.

Quán này là nơi hẹn của chúng tôi, một nhóm nhỏ của nghững người bạn văn nghệ. Chúng tôi hẹn nhau không thành lời, cứ sáng chủ nhật ai không vướng bận gì thì tới đây, ai tới được thì tới, ai bận việc riêng thì thôi. Có khi năm sáu người, có khi ba bốn người, thậm chí có khi chỉ hai người gặp nhau thôi. Đã có một lần tôi tới đây một mình, chờ mãi chẳng có ai, tôi định về, nhưng mùi cà phê quyến rũ quá, tôi cũng kéo ghế ngồi xuống cái góc quen thuộc, gọi cho mình một ly cà phê ngồi nhâm nhi, nghĩ ngợi bâng quơ:

Cứ tới, cứ ngồi xuống, dù một mình, cứ làm thành một cuộc gặp mặt với cà phê. Đã sao! Cứ ngồi xuống và nếu ai đó bất ngờ tới, khi gặp mặt nhau, mùa đông cũng thành mùa xuân.


Bình minh đẹp, trời tiết xuân
Những người ngồi quán cuối tuần có nhau
Đến vui, chẳng mong gì đâu
Những cố chấp tránh, những sầu bỏ đi
  (*)

Nhà hàng đã nhớ khách, và khách cũng nhớ nhà hàng. Chỉ cần nhìn mặt, nhà hàng nhận ra ngay ông khách này thích uống ly cà phê pha cách nào. Cả hai cùng hài lòng về mối thâm giao giữa nhà hàng và khách. Đôi khi có bạn văn từ xa ghé thành phố cũng được bạn địa phương mời tới họp mặt buổi sáng cà phê ở đây. Bạn xa tha hồ mà trầm trồ mà nhớ mãi.


Trần Văn Nam là người đứng duy nhất. Ngồi, từ trái: 
Phạm Phú Minh, Nguyễn Đình Thuần, Aki, Nguyễn Tường Thiết, 
Phùng Minh Tiến, Thành Tôn.


Các bạn của sáng chủ nhật hôm nay đã kéo nhau tới dần, cũng được đến tám người, kể cả tôi nữa. Họ ngồi xuống, gọi cà phê cho nhau. Họ không nhìn thấy sự hiện diện của tôi. Nắng đã lên và hai bàn tay tôi đã ấm. Tôi tự bắt tay mình, tôi xoa hai bàn tay mình vào nhau, nghiêng tai nghe các bạn nói chuyện.

Họ nói về những ngày cuối năm, về cái tết sắp tới, về mùa đông năm nay lạnh hơn những năm trước, về bệnh cúm đang vào thành phố. Tôi yên lặng ngồi nhìn các bạn, nhìn màu cà phê đậm đặc, yên lặng nghe tiếng muỗng chạm vào thành ly, yên lặng nghe các bạn nói về một người bạn mới ra đi tuần trước.

Một người bạn, rồi một người bạn kế tiếp, họ rơi xuống như chữ rơi xuống một câu thơ. Cần bao nhiêu chữ đễ hoàn thành một câu thơ! Những câu thơ viết xuống mùa đông của đời người.  

Cà phê bốc khói mơ màng
Bãi xe, mùa bớt lá vàng phong sương
Bầu trời trụ nét mây vương
Cõi người, ai nhớ đời thường hôm nay!
  (*)

Nhớ nhau chứ, những người bạn này mãi mãi nhớ nhau. Họ ngồi với nhau những sáng chủ nhật tại quán này và tôi đã từng là một thành viên trong nhóm bạn này.

 Một người đến trước, ngồi đó, khi có bạn tới, họ đứng lên, kéo chiếc ghé bên cạnh mình, vồn vã, tranh nhau mời: ngồi đây, ngồi đây, ngồi cạnh tôi này. Họ vồn vã như thật lâu rồi không gặp lại nhau. Tiếng ghế kéo ấm áp cả mùa đông. Họ nhìn nhau qua những sợi tóc bạc, những vệt đồi mồi trên má, những vết nhăn đuôi mắt. Chẳng thấy gì cả ngoài “một người bạn” đã thấm đẫm thuốc nhuộm thời gian.

Một chiếc ghế trống, một ly trà được rót ra cho tôi thay vì một tách cà phê. Tên tôi được nhắc tới. Có ai nhìn thấy tôi đâu, tôi cầm ly trà lên uống một ngụm nhỏ, không cảm nhận được vị trà trên môi gì cả, hình như tôi uống vào một hớp không khí, tôi nhìn từng khuôn mặt bạn hữu chung quanh, mặc dù tôi biết đã gặp họ ở đâu đó trong một quãng đời nào đó, sao bỗng dưng trở thành xa lạ, tôi bỗng thấy mình cô đơn lạc lõng.

Những người bạn chung quanh tôi bắt đầu nói chuyện. Họ nói lao xao, tiếng nọ chồng lên tiếng kia. Rồi cuối cùng họ hỏi nhau.

 Ai sẽ là người tới đây sau cùng. 

Tôi thấy thương cho tất cả bạn mình. Tôi muốn được ở lại với họ, tôi cũng muốn rủ họ đi với tôi. Mà thôi, nơi tôi tới cũng còn mới mẻ quá, tôi vẫn còn lang thang đi tìm những người bạn cũ đã bỏ đi trước tôi, tôi đi gõ từng cánh cửa vô hình.
 

Một đời người nào khác chi một khúc sông của dòng sông. Bắt nguồn từ đâu và kết thúc ở đâu? Nào ai biết. Nhưng thật sự chúng ta có cần biết không? Con sông có bao giờ tự hỏi mình về cái điều đó, nó chỉ cần có mặt và trôi đi, trôi đi…
 
Dòng sông không phải bắt nguồn từ không gian
Của bình nguyên tuyết trắng
Qua rừng núi bạt ngàn
Dòng sông đã bắt nguồn từ thời gian
Do tình thương quá khứ 


Do muôn trùng kỷ niệm miên man.  (*)
 
Ai đó vừa cầm ly trà đã rót để trước mặt chiếc ghế trống, kêu lên:

“Ồ, anh chàng đã cạn chén trà rồi!”
 
Tôi đã đến và tôi hiện hữu. (-)
 
Trần Mộng Tú

1/29/2018

(*) Thơ Trần văn Nam

(-) Dựa theo câu nói: Je pense donc je suis - Descartes (Tôi suy nghĩ tức là tôi hiện hữu)