Saturday, May 12, 2018

Ngày Của Mẹ



Sáng nay tôi đi ra phố, góc cây xăng có một bà già người Lào ngồi bán hoa. Chung quanh bà là những chậu, những rổ đựng đầy hoa đủ mầu. Tóc bà trắng nhiều hơn đen, da tay bà cũng có nhiều nếp nhăn như ở bàn tay tôi, tôi nghĩ bà là một người mẹ và có thể cũng là một người bà giống tôi.

Tôi xuống xe ghé ngồi cạnh bà lựa hoa. Mẹ tôi không còn nữa, tôi mua hoa mang ra nghĩa trang, tôi chọn thứ hoa có thể để lâu ngoài trời cho mẹ. Tôi cũng lựa thêm một bó hồng thật to, tôi sẽ chia bó hồng này ra nhiều phần nhỏ cộng thêm với hoa lá trong vườn của tôi, làm thành những bó nhỏ khác để tặng cho năm bà mẹ trẻ là: con gái, con dâu và ba cô cháu dâu vào ngày mai. Ngày mai là Ngày Của Mẹ, gia đình tôi con cháu sẽ tổ chức ăn mừng lễ chung cho các mẹ, tôi sẽ mang hoa tới tặng cho những bà mẹ trẻ này. Thật ra các cháu tôi (những bà mẹ trẻ) còn đông hơn nữa, nhưng một số đã mang nhau đi xa nghĩ hè từ mấy hôm trước.

Người phụ nữ luống tuổi với nụ cười thật hiền hậu, đưa những bó hoa tươi ra mời tôi. Khuôn mặt của bà rất thân quen vì lâu lâu bà vẫn mang hoa ra bán ở góc phố này, nhiều nhất là mùa hè và vào những dịp lễ tết. Tôi muốn nói chuyện với bà nhưng chúng tôi không đồng ngôn ngữ và bà không nói được tiếng Anh. Câu duy nhất bà nói được là Thank You sau khi khách trả tiền. Mỗi bó hoa của bà đều có cắm giá, ai muốn mua chỉ việc lấy một bó và theo giá trên bó hoa trả tiền.

Tôi trả tiền những bó hoa xong chào bà về xe. Bà tặng lại tôi một nụ cười thật tươi. Tôi vào xe ngồi thưởng thức mãi nụ cười và nét mặt hiền hậu của bà, thừ người ra một lúc, nhớ mẹ mình.

Tôi bước xuống xe, quay lại hàng hoa, mua thêm một bó hoa màu vàng thật đẹp.Trả tiền xong, tôi cầm bó hoa đặt lại vào tay bà nói nhỏ bằng tiếng Việt:

-       Chúc bà một Ngày Của Mẹ hạnh phúc.

Bà ngẩn người nhìn tôi không hiểu tôi nói gì, nhưng nhìn mặt tôi và thấy tôi dùng cả hai tay ôm lấy bàn tay gầy guộc của bà, bà như hiểu ra. Bà cảm động nói một câu dài bằng tiếng Lào và cuối cùng thêm chữ Thank you (câu tiếng Anh duy nhất bà biết). Hai mắt bà đỏ hoe, nhưng miệng nở nụ cười thật tươi.

Mẹ tôi khi mất cũng chắc cũng bằng tuổi bà bây giờ.

Con đường ra nghĩa trang hôm nay ngập tràn nắng mới.

tmt
Mother’s Day 2018

Monday, April 30, 2018

Tháng Tư Làm Vườn


Mặt trời tháng Tư rơi xuống vườn
nhát cuốc vung lên mặt trời vỡ ra từng mảnh
từng mảnh
từng mảnh mặt trời
tung lấp lánh

những con giun đất màu hồng
uốn éo nằm trong lòng đất
đất phà hơi thơm tho
cho giun giàn giụa hạnh phúc

trồng xuống khóm hoa tháng Tư
như đặt em bé vào lòng
đất mở vòng tay người mẹ
ôm hoa rất đỗi bao dung

có những chùm hoa như tóc
của những cô tiên
trong trang sách cổ tích
tóc rủ nhau xõa xuống đầy thềm

có những dọc hoa vàng
có cả dọc hoa đỏ
dụi mắt tưởng mầu cờ
mầu cờ xa xăm đó

cuốc sâu một mảnh đất nhỏ
nhè nhẹ đặt xuống tháng Tư
tôi đặt hồn tôi nằm cạnh
cho tháng Tư bớt bơ vơ.

tmt
4/2018

Thursday, April 19, 2018

Rừng U Minh


(Gửi thi sĩ Nguyễn Tiến Cung và ca sĩ Khánh Ly)

Cơn mưa tháng Tư mang theo những cánh hoa  đào bay lả tả, lòng tôi cũng bay lả tả, đây là thời điểm lòng tôi chùng xuống như cái lưới nhện mong manh, bị ai đó ném vào một vật gì, cái mạng không đứt hẳn, nó chũng xuống, rồi lại bật lên. Tôi lao đao cả phận đời mình theo nó.
Khi tháng Tư về tôi nhận được từ các bạn rất nhiều những hình ảnh, thơ văn, nhạc, về cuộc chiến, về quê hương nước Việt. Mỗi bài gửi vào lòng người di tản một nỗi đau khác nhau, với tôi, những câu hát Phạm Duy phổ nhạc từ bài thơ U Minh của Nguyễn Tiến Cung (*)nó ở lại trong tôi lâu nhất, tôi nhớ và hay hát một mình trong những ngày “một mình đi dưới mưa.”(Tôi không biết có bao nhiêu người bạn của tôi biết về bài thơ này)

Ta không thấy em từ bấy lâu nay
Mùa mưa làm rừng đước dâng đầy
Trên cao gió hát mây như tóc
Tràm đứng như em một dáng gầy

  Rừng U Minh


 Những Cây Tràm

Bài thơ này được phổ nhạc và với giọng hát của Khánh Ly đã làm tôi mỗi lần nghe là một lần ứa nước mắt. Khánh Ly có giọng hát của một người kể chuyện, khi Khánh Ly hát một bản nhạc tình thì nghe như cô kể chuyện tình yêu của cô hay của bạn hữu. Khi cô hát một bài có tiếng đại bác, có hỏa châu thì đúng là cô kể chuyện chiến tranh. Nhưng riêng bài Rừng U Minh này, không hề có tiếng súng, tiếng đạn (có chăng chỉ là tiếng đạn nổ lùng bùng trong cái nòng ướt,) không một ai chết cả, cũng không có cả hỏa châu, khăn tang, máu và nước mắt nhưng bài hát được cất lên, ta được nghe cả tác giả và ca sĩ cùng kể  chuyện chiến tranh. Cả hai kể chậm rãi, bình thản nhưng người nghe thấy xót xa, cảm nhận được cái buồn, cái bất lực của một cuộc chiến và thương cho những con người đang mắc trong cái chuyện kể rất buồn này.

Người lính kể chuyện chiến tranh chỉ quẩn quanh về tiếng đạn nổ lùng bùng trong nòng súng ướt, anh than cái quần trây-di( treillis) của anh bị nhuộm vàng vì nước phèn, anh kể lể về những con rạch, những giòng sông
anh đi qua, để lại xót xa, nhưng anh không nói rõ cái xót xa từ đâu đưa tới.
Anh nói về mùa mưa làm nước dưng lên ướt ngập cánh rừng tràm anh đi qua.
Anh nói về những cơn gió và đám mây như tóc của một người con gái, những cây tràm gầy gầy như em, chữ em anh thốt lên cho ta biết anh có một người yêu và anh đã không được gặp người yêu trước khi anh đi, rồi anh tự an ủi mình, đừng nhớ nữa về một tình yêu đã xa.

 Ta không thấy em một lần đi
Nước phèn vàng nhuộm quần trây-di
Đạn nổ lùng bùng trong nòng ướt
Tình đã xa rồi thôi nhớ chi

Anh viết những dòng về chuyện chiến tranh nhưng không có hình ảnh chiến tranh, không nghe tiếng khóc, cái vết thương chiến tranh của anh nó lạnh lùng, tàn nhẫn một cách kín đáo. Nó xóa mất những thành phố ồn ào, nó lấy hết sinh lực tuổi trẻ.
Cuộc chiến già nua hay chính anh già nua theo cuộc chiến.

Mỗi con lạch là mỗi xót xa
Mỗi giòng sông là mỗi tuổi già
Thành phố đâu đây hình mất dạng
Cuộc chiến già nua theo tiếng ca…

Và Khánh Ly đã rời rã, tiếng một, kể chuyện chiến tranh anh ghi chép đó. Chuyện chiến tranh không hề có bom rơi , lửa cháy, mà nó chỉ lạnh lùng xóa đi những thành phố.

Bây giờ anh ở đâu sau 43 năm? Cuộc chiến không còn già nua nữa, nó đã chết hẳn, nó đã chôn theo bao nhiêu khẩu súng, bao nhiêu bộ quần áo treillis nhuộm phèn mục nát. Người con gái gầy gầy như cây tràm, người lính trẻ buồn bã đó, cả hai còn sống hay đã chết. Tôi mong là anh đã chết, như thế thì đỡ đau đớn cho anh hơn vì nếu sống sót cái “ rừng U Minh ngập nước những ngày mưa đó không bao giờ ra khỏi anh được. Cái thành phố mà anh nghĩ là mất hình mất dạng đó thì nó vẫn còn, nhưng đã thay xương đổi thịt, anh sẽ chẳng thể nào nhận diện ra và người con gái ngày đó của anh bây giờ cũng bằng cách này hay cách khác không còn hiện hữu nữa. Chiến tranh đã đốn ngã cả những gốc tràm gầy và đẹp nhất.

Nếu bằng một phép lạ nào đó anh hãy còn sống, xin anh hãy quên đi, quên tất cả đi.

tmt                                                        
Tháng 4/2018
(*) Thơ U Minh- Nguyễn Tiến Cung trong Thơ Miền Nam Thời Chiến


Tuesday, March 27, 2018

BÁNH MÌ TRỨNG

 

Buổi sáng tôi hay
ăn bánh mì trứng
 tôi nướng bánh mì
trong chiếc lò nhỏ
bánh có mùi thơm
ngọt ngào đất ấm

cho dầu vào chảo
đập một quả trứng
đập nhè nhẹ thôi
bắt đầu lòng đỏ
trông giống mặt trăng
chảo nóng hơn lên
trăng thành mặt trời

Tôi xúc trứng ra
xúc rất nhè nhẹ
đặt trên bánh mì

tôi đặt mặt trời
đặt luôn mặt trăng
đặt rất nhè nhẹ
lên trên mặt đất
mặt đất thơm lừng

 tôi thong thả ăn
đất trời vào bụng
thấy tôi thơm lừng.

nếu tôi khép mắt
trong buổi sáng nay
sẽ tràn nhật nguyệt
trong tấm thân này.

tmt

NGƯỜI THẦY và CHIẾC ÁO



Thầy và trò của một lớp học trong tiểu chủng viện những năm 1960-1965. 
(Hình minh họa: Gia đình Cựu Chủng Sinh Huế)


(Đăng trên nhật báo Người-Việt, ngày 18/3/2018)

LỜI TÒA SOẠN: Một kỷ niệm nhỏ của nhà thơ Trần Mộng Tú thời còn là một “nữ sinh Lớp Tám” cho chúng ta thấy tư cách của một thầy giáo và lòng tôn kính của phụ huynh học sinh đối với thầy, ở Sài Gòn trước đây hơn nửa thế kỷ. Thời đó không có cảnh phụ huynh học sinh de dọa thầy, cô, học trò tấn công cô giáo, hoặc bắt cô giáo quỳ lạy trước công chúng, như đang diễn ra ở nước ta hiện nay!
***
Tôi rụt rè đứng trước khung cửa sổ văn phòng, trong khu nhà nội trú của các Thầy và các Linh Mục chủng viện.
Thầy Khoan đứng bên trong cửa sổ hỏi ra:
Con cần gì?
Thưa thầy, mẹ con nói con thưa với cha Tùng đưa áo cho con đem về để mẹ con thay cái ống tay áo cho cha.
Thầy Khoan bảo tôi ra ngoài văn phòng nhà trường ngồi chờ, thầy đi tìm cha Tùng. Khoảng hai mươi phút sau, thầy mang ra cái áo gói trong một tờ báo cũ, đưa cho tôi đem về.
Cha Tùng là thầy dạy tôi môn Anh văn. Cha luôn luôn mặc áo cũ; hoặc sờn vai, hoặc rách khuỷu tay. Tôi đi học về lại kể cho mẹ nghe, khoe hôm nay con thấy cha mặc cái áo rách chỗ nào! Mẹ tôi nghe mãi chắc cũng mủi lòng, nên bảo tôi vào trường mang chiếc áo chùng đen của cha về cho mẹ mạng lại hay mẹ vá giúp những chỗ rách.
Tôi nhớ mãi câu chuyện ngày hôm đó (tôi mới học lớp đệ Ngũ) cho tới bây giờ sau hơn 50 năm.
Tôi học trường tư thục Công Giáo, do chủng viện Nguyễn Duy Khang-Thị Nghè lập.Trường chỉ có từ đệ Thất đến đệ Tứ. Thi xong Trung Học Đệ Nhất Cấp tôi phải ra trường khác học.
Một số các thầy là Linh Mục, hay Tu Sinh trong chủng viện, còn một số giáo sư được mời từ bên ngoài vào dạy.
Chủng Viện và trường học cùng ở trên một miếng đất, tôi hồi đó không biết miếng đất rộng bao nhiêu, chỉ biết có hai dẫy nhà, một dẫy cho các cha và các thầy ở, một dẫy làm trường học, có hồ cá và vườn rau. Trường có nhà nguyện nhỏ cho các thầy, chúng tôi không được vào đó bao giờ.

Thầy dạy Anh Văn của chúng tôi là Linh Mục Đinh Cao Tùng, dạy Việt Văn và Âm Nhạc là thầy Đinh Ngọc Khoan, tu sinh, em ruột của cha Tùng, thầy Cầu dạy Toán, thầy Tiếng dạy Lý Hóa, linh mục Nguyễn Khoa Cử là Hiệu Trưởng.
Ngoài tu sinh và linh mục trong chủng viện, cha hiệu trưởng còn mời một số sinh viên Văn Khoa hay Luật Khoa mới ra trường “dạy giờ” cho những lớp nhỏ, đệ Thất, đệ Lục.
Chủng Viện nghèo, các linh mục, tu sĩ cũng nghèo. Mẹ tôi là cô giáo dạy thêu đan nên vá mạng rất khéo, mẹ giúp thì các cha chỉ biết cảm ơn. Nhưng một chiếc áo cũ đem mạng hay vá mãi cũng hết cách, nhất là cánh tay áo, bộ phận được cử động nhiều nhất, mạng vô nó lại rách ra! Cho nên, có khi mẹ thay cả cái ống tay áo mới, ghép vào cái áo đã bạc màu!

Rồi đến một năm, trước lễ Giáng Sinh, nhìn cái áo vá chằng vá đụp chắc không còn dùng được mấy tháng nữa, chắc chắn cần thay bằng áo khác, mẹ bàn với tôi mua vải về, mẹ cắt, may cho cha Tùng một cái áo chùng đen mới.
Tôi nhớ cái ngày hai mẹ con tôi đem cái áo chùng đen đó tới biếu cha. Sau giờ học, hai mẹ con tôi xin được gặp riêng cha ở văn phòng nhà trường. Cha ra tiếp, nghĩ là mẹ con tôi đến xin trả tiền học trễ tháng này (thỉnh thoảng vẫn có phụ huynh tới xin phép đóng trễ tiền học cho con). Khi thấy mẹ tôi xin biếu cha cái áo mới, cha cảm động lắm. Nhưng cha không bày tỏ tình cảm của mình với thái độ vui mừng, vồn vã, như người khác khi được tặng quà. Cha vẫn đứng cách mẹ con tôi một khoảng khá xa, miệng nói lời cám ơn, giọng nhỏ nhẹ, từ tốn. Cả mẹ và tôi cũng không biết nói gì, chỉ đứng khoanh tay cúi đầu; nhưng trong lòng chúng tôi vô cùng sung sướng. Trên đường về mẹ tôi nói là chỉ sợ cha không nhận, và khi mặc cái áo mới chắc cha sẽ lúng túng lắm.

Tôi nhắc mẹ là chiếc áo cũ đã hết chỗ để thay, để mạng rồi mẹ ạ, để cha mặc một cái áo dòng với nhiều miếng vá, con thấy tội nghiệp cha quá.
Nhưng tại sao khi cha nhận được cái áo mẹ tặng, cha lại không tỏ ra vui mừng, hả mẹ?
Mẹ tôi nói. “Cha giữ lòng tự trọng của một người thầy giáo.”
Buổi học đầu sau mấy ngày nghỉ lễ Giáng Sinh năm đó, trở lại lớp, tôi thấy cha (người thầy đáng kính của tôi) mặc chiếc áo mới đi dạy. Nét mặt cha vẫn từ tốn, nghiêm nghị. Trước vẻ bình thản của cha, các học sinh cũng không ai dám hỏi đùa, “Cha mặc áo mới?” Sau giờ học, tôi phụ thu góp bài làm của các bạn đặt lên bàn giấy giáo sư. Cha Tùng ngẩng mặt lên nhìn tôi, nói:
Cám ơn con.
Tôi nghe trong giọng nói vẫn giản dị như mọi khi, nhưng hình như cũng chứa cả một niềm biết ơn đậm đà. Bỗng nhiên hai giọt nước mắt tôi ứa ra, tôi vội vàng quay nhanh về chỗ.
Về nhà tôi kể lại cảm xúc mình cho bố mẹ nghe. Bố tôi nói:

Con ơi, Thầy giáo là cha mẹ thứ hai của mình. Các con phải luôn luôn kính trọng Thầy. Các con sai thì Thầy phạt, các con đúng thì Thầy khen thưởng. Phải biết công ơn của Thầy. Như bố mẹ đây cũng phải kính trọng và mang ơn Thầy, vì Thầy đã giúp bố mẹ giáo dục các con. Thầy dạy chúng con có nhiều điều bố mẹ không biết nhưng căn bản là các con hãy lễ phép và biết tôn kính Thầy như tôn kính cha mẹ.

Rồi bố tôi kể lại truyện về một người học trò ngày xưa, hết lớp ở làng lên tỉnh học, thi đỗ làm quan huyện rồi về thăm quê. Trước tiên là thăm người Thầy dạy mình thời thơ dại. Ông Thầy già đã được lính tới tận nhà báo trước là có quan huyện ghé thăm. Khi quan Huyện khom lưng bước vào ngôi nhà tranh, vách đất, thấy Thầy mình ngồi trên tấm phản, vẫn tấm phản ngày xưa, chỉ có Thầy là già đi và ốm yếu. Quan khoanh tay, cúi lạy Thày. Thầy vẫn ngồi yên trên phản, khẽ gật đầu, giơ tay mời anh học trò cũ của mình ngồi xuống uống chén trà. Ông quan trẻ đó trước sau vẫn không dám ngồi ngang với Thầy mình, ông khoanh tay đứng suốt buổi hầu trà Thầy, cho tới khi cúi đầu chào đi giật lùi ra cửa.(*)
Cha tôi nói; đó là truyền thống đạo đức của người Việt mình con ạ. “Tôn Sư Trọng Đạo” Người học trò biết giữ cái lễ với Thầy, người Thầy biết giữ cái lòng tự trọng của mình, với cả những người làm quan, có chức có quyền.

Như Linh Mục Tùng, Thầy của con, khi nhận được chiếc áo mới, Thầy biết là mình rất cần, vì cái áo cũ rách quá rồi. Tự trong thâm tâm Thầy con rất cám ơn, nhưng không tỏ ra biết ơn một cách quá vồ vập. Vì lòng tự trọng của một người thầy giáo nghèo.
Một người nghèo mà quá vui mừng khi được một cái áo mới thì tỏ ra là mình đang thèm muốn cái áo đó lắm. Một ông thầy tự trọng thì dù mặc cái áo cũ hay áo mới cũng không coi là quan trọng. Ai cho áo mới thì cảm ơn, nhưng không vồn vã quá. Bây giờ các con còn nhỏ, nếu không được giáo dục như thế, khi lớn lên con không thể nào trở thành một người cha, người mẹ tốt trong gia đình và một người công dân tốt cho xã hội được.

Bây giờ thì cả cha mẹ tôi và Thầy Tùng, vị linh mục khả kính của tôi đã qua đời. Tôi đã thay vào chỗ của cha mẹ, đến lượt đưa con tới trường. Rồi các con tôi lại đưa con của chúng tới trường. Chúng tôi cùng cố gắng dạy cho trẻ nhỏ biết kính trọng thầy cô như chính chúng tôi cũng biết kính trọng những người dậy dỗ con cháu mình, vì cái gương đẹp nhất bao giờ cũng từ cha mẹ.

Ơn cha nghĩa mẹ công thầy
Ở sao cho xứng phận này làm con.


Câu thơ trên tôi được học từ nhỏ, vẫn nhớ tới bây giờ. (Trần Mộng Tú)
(*) Phỏng theo Quốc Văn Giáo Khoa Thư – ngày xưa




Wednesday, March 14, 2018

Bún Bò Huế

Mẹ hẹn bốn cô con gái tới ăn Bún Bò Huế vào sáng thứ Hai. Sáng thứ Hai là thời gian thích hợp nhất cho cả bốn cô. Bốn cô cùng có con ở tuổi đi học từ Mẫu Giáo tới lớp Tám, mỗi cô có lịch trình đi làm bán thời gian, đưa đón con của họ khác nhau, nên hẹn một buổi ăn trưa ngày thường không dễ.
Từ mấy hôm trước mẹ đã đi chợ mua đủ thịt, rau, bún và nồi Bún Bò bắt đầu nấu ngày hôm qua.
Cô Hai nói
-      Bát của con ít bún nghe
Ừ mẹ sẽ cho ít bún
Cô Ba nói
-      Bát của con nhiều thịt bò
Ừ, mẹ sẽ thêm cho hai miếng
Cô Tư nói
-      Bát của con nhiều móng giò, mẹ có đủ không?
Mẹ có thêm hai cái móng chân của mẹ, nếu con muốn để mẹ đi rửa chân đã.
Cả bốn cô và mẹ cùng cười vang căn bếp nhỏ. Mấy cô vừa ăn vừa nhìn chung quanh cái bếp của mẹ vừa rù rì vào tai nhau nói xấu mẹ.
-      Nhìn kìa, bà đang thu mấy cái muỗng nhựa cho vào máy rửa chén
Cô Ba nói
-      Bao giờ tới đây, em cứ nhìn trong tủ đồ khô của mẹ, cái gì quá hạn là em vứt đi, mẹ mua cho thật nhiều, dùng không kịp nên luôn có đồ cũ trong bếp. Hôm trước mẹ cho vào rau xà lát mấy lát hạnh nhân, em ăn biết ngay là hạnh nhân quá hạn, hôi mùi dầu không à.
Ừ, cứ nói xấu mẹ đi, thế mà lúc cần đến món gì, hỏi mẹ cũng có ngay. Ngay cả khăn giấy, đĩa giấy mẹ cũng không bao giờ thiếu.
-   Mẹ ơi, những thứ đó thì mẹ tích trữ không sao nhưng gia vị, trừ nước mắm và muối thôi, còn như tương đen, tương đỏ, mẹ để lâu quá cũng không tốt đâu.
Các cô nhao nhao mỗi người một tiếng, lúc nói to cho mẹ nghe thấy, lúc hạ giọng nói cho nhau nghe thôi, mẹ cũng giả vờ như không nghe rõ các cô đang nói xấu mẹ.
Cô Út từ nẫy giờ bát bún vẫn còn nguyên, cô chỉ nhâm nhi một miếng móng heo chứ bún vẫn đầy bát. Mẹ nhìn bát bún của Út, mẹ chỉ nói khẽ
Ăn thêm chút nữa đi con. Út lắc đầu.

Mẹ nhìn Út thấy xót trong lòng. Mẹ nấu nồi bún cho cả bốn cô ăn, nhưng thật ra tất cả là làm cho Út vui. Khi đi chợ mua rau, mua thịt, cầm lên một món gì mẹ cũng chỉ nghĩ tới Út mà thôi. Tháng này Út sẽ nghỉ thuốc, tháng sau người ta sẽ thử một loại thuốc mới cho Út. Mẹ không muốn nghĩ tiếp nữa. Cái thân thể trẻ trung của người phụ nữ chưa tới 40 này, trong cả năm nay các ông bác sĩ chuyên môn dùng cô như một viện thí nghiệm nhỏ. Họ đang thử những loại thuốc mới trị ung thư vào cô.

Các cô sửa soạn ra về, người đi đón con, người quay lại sở, người đi chợ, Út chắc về nhà nghỉ ngơi. Mỗi cô ra cửa ôm mẹ một cái. Cái ôm của mẹ và Út bỗng ngưng lại dài hơn, mẹ vỗ vỗ lên lưng Út nghe như mấy ngón tay mình đang khóc.
Mẹ đứng nhìn từng chiếc xe đi xuống con dốc nhỏ, mỗi chiếc xe mang một mảnh đời lăn vào thế giới hạnh phúc và khổ đau trước mặt.

Tô bún của Út còn nguyên, mẹ thu dọn bếp như thu dọn lòng mẹ. Ước gì mẹ đổ được căn bệnh hiểm nghèo của Út đi như mẹ đổ tô bún này.

tmt
Tháng 3/12/2018