Thursday, June 5, 2014

MƯA SÀI GÒN MƯA SEATTLE


Sáng nay ra phố gội đầu
Giọt mưa sợi tóc ôm nhau khóc òa

 Khi rời California tìm một nơi có đời sống thong thả, yên ổn để nuôi các con, chúng tôi rơi ngay vào một vũng nước mưa: thành phố Seattle của bang Washington. Lúc nào ông trời Seattle cũng mưa được. Không mưa sáng thì mưa chiều, không mưa chiều thì mưa tối. Vào mùa Hạ thì thỉnh thoảng mới có một hôm nắng nguyên ngày. Tối hôm trước đi ngủ, bầu trời đêm cao thăm thẳm, trong veo, không một gợn mây, thế mà nửa đêm thức dậy nghe như có tiếng ai gõ nhẹ trên mái gỗ, lắng nghe một lúc biết là trời bắt đầu mưa.

Tôi nằm im lặng nghe mưa.

Tôi sinh ra ở Việt Nam, một nước thuộc miền nhiệt đới và lớn lên giữa miền Nam mưa nắng hai mùa,giữa những cơn mưa bất chợt ập xuống mùa hạ chói chang và một mùa mưa kéo dài sáu tháng. Mưa trở thành một người bạn thiết, một nỗi thân quen. Có những kỷ niệm ướt sũng nước mưa, chẳng làm sao lau khô được, nên mưa trở thành một nhắc nhở hiện tại.

Tiếng mưa Sài Gòn không giống tiếng mưa Seattle. Mưa Sài Gòn đập ầm ầm thảng thốt trên mái nhà, nhất là những mái nhà tôn. Ban đêm mưa đánh thức giấc ngủ của ta, lôi ta ra khỏi những cơn mộng hay thức ta dậy để tiếp tục yêu thương, hờn giận, để hoàn tất những công việc của ngày qua chưa làm hết. Ban ngày, đôi khi mưa như một ân sủng của trời trút xuống, gột rửa bao bực nhọc, làm mới lại và xóa hộ những điều không muốn giữ. Nhưng mưa lớn cũng là nỗi hãi hùng của những người buôn thúng, bán bưng, nỗi lo âu của người chủ gia đình không mang về đủ một bữa cơm có thịt, có cá buổi chiều. Khi là một cơn mưa trung bình, tiếng mưa rơi lộp bộp trên những tầu lá chuối, âm thanh đều đều như tiếng nhạc đệm, lắng nghe nó cho ta cái cảm tưởng được nhàn nhã, thư thái. Khi mưa nhỏ hạt, tiếng róc rách trên mái nhà lá vừa thơ mộng vừa buồn bã, nghe mãi, đâm ra mê lúc nào không biết.

Tôi nhớ những buổi tan trường, nếu lỡ một trong hai chuyến xe buýt, đành phải đi bộ từ trường về nhà. Quần áo trắng ướt sũng, cặp sách ôm che ngang ngực con gái mới lớn, chạy vội vàng trong buổi chiều, sợ ai nhìn xấu hổ. Ở tuổi muời sáu mười bảy, ít khi bị cảm, bị lạnh. Về đến nhà, mẹ bắt thay quần áo, uống một ly trà nóng, lau khô mái tóc, là ấm người ngay.

 Khi lớn hơn chút nữa, những lần đi chơi với người yêu gặp trời mưa, hai người che chung một cái áo mưa hay một cái dù. Vừa bối rối, vừa sợ, vừa hạnh phúc. Chỉ sợ ướt cái áo dài mỏng, nhưng lại mong sao con mưa đừng tạnh và con đường đừng hết. Ôi những cơn mưa chợt đến chợt đi trong khí hậu nóng ẩm làm mặt đường bốc khói, lượng nước trời trút xuống hào phóng quá, làm ngập lụt những con đường không thoát nước, ta như được bơi trong một giòng sông ngọt ngào, ngắn hạn!

Bây giờ, vào những buổi sáng ở Seattle, đi ra đường gặp cơn mưa lớn hiếm hoi, nghe tiếng mưa rơi trên hàng cây xanh mướt, những chùm lá sạch sẽ, sự rung động êm ả thanh bình thì những cơn mưa vùng nhiệt đới xa xăm với những tiếng đập rộn ràng lại khua vang trong đầu. Mưa lớn ở Seattle chỉ là những cơn mưa nhanh hạt, tiếng gió, tiếng lá chạm vào nhau, có òa ra thì cũng chỉ to bằng tiếng khóc.

Sáng nay ra phố gội đầu
Giọt mưa sợi tóc ôm nhau khóc òa
 (thơ tmt)

Tôi đã quen lắm với mưa Seattle, thân thiện với mưa, vì mưa đi bên tôi hầu như mỗi ngày. Nhờ mưa Seattle, tôi thấy quý sự hiếm hoi của mặt trời rực rỡ và trong mắt tôi, bầu trời trên mái nhà tôi cao và xanh hơn bầu trời của những nơi khác, vườn nhà tôi mưa tinh khiết và mưa lãng mạn hơn bất cứ nơi nào.

Nhưng vào những ngày mưa kéo dài cả tuần lễ, thì những giọt mưa âm thầm lặng lẽ dai dẳng chẩy xuống như những dòng lệ mầu xám trong một bức tranh sơn dầu, nhắc tôi nhớ đến bức tranh nằm sâu trong tâm khảm: một chiếc phà chở quan tài từ từ tách bến Sài Gòn qua bên kia Thủ Thiêm, trên nóc quan tài ướt sũng một lá quốc kỳ xô lệch trông như một chiếc chăn cũ vàng ố, rách nát, bát nhang tắt ngấm vì nước mưa, người lính đi tháp tùng đứng im lìm như một pho tượng của ngàn năm cũ. Mưa thản nhiên rơi trên quan tài, rơi trên đầu, trên cổ người lính từng giọt, từng giọt. Tôi đứng nhìn ông Trời họa sĩ vẽ tranh vào không gian. Mầu xám của nền trời căng ra như một khung vải, chiếc quan tài phủ quốc kỳ xộc xệch, người lính đứng bên, mặt lạnh, xanh tái như mầu áo trận, trên chiếc phà cũ kỹ, bạc phếch. Tất cả được họa sĩ Trời mang vào trong tranh, dưới một gam mầu lạnh. Tôi mang theo bức tranh này trong suốt mấy chục năm ở quê người, đó là tài sản duy nhất sót lại của đời người di tản.

 Lúc tôi đến trại Pendleton cũng là vào một đêm mưa. Mưa không to lắm, nhưng khí hậu sa mạc của California về đêm làm mọi người lạnh cóng. Trẻ con, người lớn và ngay cả người già, mỗi người đều được phát cho một chiếc áo lính cùng cỡ để mặc cho ấm. Trong đêm tối, chúng tôi trông như những bụi cây không đều nhau, biết đi. Chúng tôi đứng xếp hàng chờ nhận lều, giơ tay vuốt mặt, ướt sũng nước mưa và nước mắt.

 Ngày tôi lấy chồng cũng vào một ngày mưa. Ở California giữa tháng chín mà mưa, thế có lạ không! Theo phong tục Mỹ, cô dâu chú rể vừa bước ra ngưỡng cửa nhà thờ, người ta tung gạo như mưa vào người để chúc may mắn. Ở quê tôi người ta chỉ ném gạo theo sau những chiếc quan tài vì sợ người chết bị đói. Mẹ tôi (dù là người Công Giáo) thấy giữa đám cưới mà bị ném gạo thì hoảng quá giơ tay ngăn lại. Tôi nghĩ cả hai phong tục đều hay cả. Nếu lấy nhau mà không được nuôi bằng tình yêu thì cũng bị đói vậy. Cơn mưa nào cũng mang theo ý nghĩa của nó.

 Chị em tôi ở Mỹ lâu lắm rồi, lâu đến nỗi thỉnh thoảng nghĩ đến mà bàng hoàng cả người. Vì tính ra khoảng thời gian mình ở Mỹ đã dài bằng khoảng thời gian ở cả Hà Nội và Sài Gòn cộng lại. Thế mà chúng tôi vẫn hay nhắc đến những cơn mưa ở quê nhà. Chúng tôi hay nói: “Tối qua mưa nặng hạt và to tiếng như mưa ở Sài Gòn” hay “Mưa rả rích mấy ngày liền như thế này thì có kém gì Huế!”. Nhưng ở đây lâu thế mà sao không thấy ai hứng nước mưa để uống, để pha trà nhỉ? Người kỹ tính lắm thì cũng chỉ pha trà bằng nước bán trong chai. Tôi nhớ ngày trước, nhà tôi có căng một miếng vải màn trắng trên miệng một chiếc vại để ngoài sân hứng nước mưa uống quanh năm. Người Việt sang đây giản dị hóa, đã bỏ hết những chuyện uống cầu kỳ này.

Mưa ở Seattle làm cho những dẫy núi bao bọc chung quanh thành phố trông tinh khiết và cao cả hơn lên, những cây tùng, cây bách giữ mãi một mầu xanh thẫm, chạm tay lên lá, lá mịn màng, trong sạch như thiếu nữ mới lớn, mưa làm nước hồ thăm thẳm mềm mại như một giải lụa. Tiếng chim hót trong mưa thánh thót hơn, con sóc, con chồn lúc nào cũng có một bộ lông còn mới dưới mưa. Và hình như sống ở nơi có nhiều mưa, con người điềm đạm và bao dung với nhau hơn. Tuổi trẻ thì giản dị, tự nhiên. Tôi đã thấy những học sinh trung học ở đây đứng thản nhiên hôn nhau dưới mưa trước cổng trường.

Ôi những cơn mưa ở hai đầu trái đất! Mưa Sài Gòn và mưa Seattle. Cũng chỉ là những đám mây tụ lại, rồi rơi xuống. Nhưng khi rơi trên nóc một chiếc quan tài của người lính, trên chiếc áo dài trắng của cô học trò trung học, trên mái tóc của hai người yêu nhau, trên vai áo của người tỵ nạn Việt Nam, mưa khác biệt thế nào so với khi rơi xuống trên những cành thông ở Seattle hay giữa một đám cưới ở California? Và khi vẽ mưa trong những bức tranh ở những nơi khác nhau, người ta có vẽ cho nó những hình thể khác nhau, chọn những gam mầu khác nhau?

Ước gì có ai vẽ được linh hồn của những giọt mưa!


NHỮNG Ý NGHĨ LƠ MƠ


thảm cỏ này bao lần thay sắc
gót chân in dấu vẫn chưa quen
bầy sẻ đó tôi không biết tuổi
thoáng bay qua thoáng đậu bên thềm


 Anh thân mến,

 Anh có nhớ không, em đã kể cho anh nghe rất  nhiều lần về chỗ làm việc của em. Đó là một khu đất đủ  mọi chủng tộc đến cư ngụ. Cái bệnh xá nhà nước chuyên  khám bệnh cho những người nghèo ở ngay vào một khu  phố nghèo nhất và cửa sổ bàn giấy của em nhìn ra một  con hẻm nhỏ, bên kia hẻm là một dãy nhà cũ. Ngôi nhà cũ kỹ nhất, hình như được sơn mầu xanh, quay lưng về phía em. Em nói hình như vì nước sơn lâu ngày bạc phếch, em khó nhìn ra cái mầu nguyên thủy của nó.Trong vườn có một cái chuồng ba tầng khá lớn nuôi chim bồ  câu. Em không biết là có bao nhiêu con chim, chỉ thấy chúng bay ra, bay vào hàng đàn từ chuồng lên mái nhà. 

Từ cửa sổ văn phòng em nhìn ra, em thấy được thêm trong vườn còn có một cây lê, một cây mận, một hàng rào gỗ bạc phếch, xiêu vẹo và những giây hoa bìm bìm mầu tím nhạt. Có hôm, em nhìn thấy một người đàn ông trạc tuổi anh ra cho chim bồ câu ăn. Ông ta nắm từng nắm ngũ cốc tung ra sân, đàn chim xúm lại đậu cả trên giầy, trên vai và trên cánh tay ông ta. Em ngồi ở bên này nheo mắt nhìn sang, tha hồ ngắm nghía vì ông ta không nhìn thấy em. Hôm khác, một bà cụ già ra cho chim ăn, em đoán là bà mẹ, nhưng khi có những người đàn bà trẻ ra cho ăn thì em không đoán được là ai, vì những người này mỗi lần em thấy một khuôn mặt khác nhau. Nếu là người yêu thì ông ta may mắn hơn anh nhiều. Họ cũng ríu rít như hai con chim lớn đứng ném tung những nắm ngũ cốc vào đầu cổ nhau, trông họ hạnh phúc quá. Chỉ có một điều là con trống vẫn cũ mà con mái cứ đổi mới hoài thôi.

 Chỉ có ngần ấy thứ nhưng mỗi mùa chúng cho em một bức tranh khác nhau, rồi tùy theo ngày hôm đó em buồn buồn hay em vui vẻ, em rảnh rỗi hay em bận bịu với công việc mà cảnh trong tranh thay đổi. Thời tiết đang ở vào tháng Năm, hôm nay nắng tràn vào thành phố, cây lê, cây mận nhà đó đang bắt đầu kết trái. Em nhìn rõ được cả từng chiếc núm xanh xanh ở cuống mỗi trái còn nhỏ xíu, đám lá rung rinh như bàn tay trẻ con tập vẫy chào. Chỉ một tháng nữa là những cái cành cong cong kia sẽ trĩu nặng, oằn xuống với quả. Hai thân cây già nua da dẻ xù xì đó sẽ trông như hai bà mẹ luống tuổi đông con, vai lúc nào cũng nghiêng xuống vì gánh nặng gia đình.

Rồi trái cây đến lúc phải xa cành, trái thì người ta hái xuống đem đi, trái thì khi không mà rụng. Chúng bỏ cây chúng đi, cây khô héo và bắt đầu rụng lá, cuối thu cây chỉ còn là những cành khô. Các đứa con cũng như hoa trái, bỏ mẹ mà đi, mẹ héo úa, già nua, phờ phạc. Cuối đời, mẹ chỉ còn hai cánh tay gầy guộc, da dẻ nhăn nheo.  Hôm nay bệnh nhân vắng, em ngồi lơ mơ, cái lơ mơ của một người hay mơ mộng trong một ngày thường. Em thấy mấy con chim bồ câu ngày hôm nay hình như chúng bé hơn những con chim mấy tháng trước đây. Hay đám chim này là đám chim con mới lớn, còn đám chim trước đã bị đem đi bán cho mấy tiệm ăn ở phố Tầu rồi? Mái nhà rong rêu, loang lổ chẳng biết có cái kiến, con sâu nào trốn nổi không, vì hết đám chim câu của nhà đến lũ chim sẻ từ đâu bay tới, chúng mổ liên miên trên từng viên ngói cũ. Cái ống khói trông thật là kỳ cục, tự nhiên ở trên đầu nó chui ra nào giây điện, giây ăng ten truyền hình, giây điện thoại, buộc chằng chịt bằng đủ mọi thứ giây, chẳng khác gì đầu tóc uốn vụng về của một bà lão, tóc rút rít quăn còn kẹp năm ba cái kẹp, cài thêm vài cái nơ cũ kỹ. Bà lão này chắc không hút thuốc vì những ngày đông em chẳng nhìn thấy bà ấy thở khói mù mịt như những người đàn ông dưới phố bao giờ.

 Em lơ mơ ước gì mình là một trong những con chim bồ câu kia, thân hình tròn nhỏ trong cái áo mầu xám nhạt trông giản dị mà gợi cảm. Nó ung dung đi qua đi lại trên triền dốc của mái nhà, thỉnh thoảng lại nghiêng đầu nghe ngóng một âm thanh lạ. Nó có biết buồn không nhỉ? Nó có biết là người ta nuôi nó để bán cho các nhà hàng làm thịt không?

 Nếu biết thì nó có bay đi nơi khác? Làm chim bồ câu thì được rồi, mà bị bắt cho vào lò thì sợ lắm. Thôi, hay mình là cây mận, cây lê, cứ mùa xuân nào cũng nở hoa trắng toát vườn, kết trái, rồi rụng lá thay cành, rồi chết đi sống lại. Hay mình chỉ là mấy cái quả lúc chát lúc ngọt để cho người ta xuýt xoa. Hay mình là chùm lá xanh, lúc thầm thì, lúc lặng lẽ, như tình nhân nhưng lại sợ bị gió cuốn đi vào lúc sang mùa. Hay mình là cái hàng rào, thì lại sợ thời gian tàn phá, sợ bị đổ, bị giẫm lên, bị vứt vào lò sưởi. Hay mình là giây hoa bìm bìm, thì lại sợ người ta chê là hoa hèn cỏ nội, không bao giờ được mang vào cắm trong lọ pha lê, trưng giữa phòng khách. Em cũng không muốn là cái ống khói vì trông nó già nua quá! Mặc dù em rất thích mấy câu thơ: Chàng như mây mùa thu / Thiếp như khói trong lò / Cao thấp tuy có khác / Một tỏa cùng tuyệt vời.

Em rất ngại già vì sợ khi đi bộ bên anh làm anh cứ phải bước chậm lại chờ em, và khi già thì những vết nhăn xuất hiện trên trán làm em sẽ trông như một pho sách cũ. Em luôn luôn thích ngửi mùi giấy thơm tho của một pho sách mới. Thôi, hay mình là vạt nắng mùa hạ, mùa hạ nơi em ở thì đẹp vô cùng, nắng hiếm hoi nên nắng ngọt như mật ong, nắng ấm áp thân mật như hơi thở người tình, em mong chờ nắng tới, nhưng em lại sợ lẻ loi mỗi khi có nắng mà không có bóng anh in xuống đi bên cạnh bóng em.

 Em thật là khó chịu phải không anh. Em cứ kiếm ra nhiều lý do mà chê từng mảnh lớn, mảnh nhỏ trong bức tranh trước mặt, em không muốn mình thành bất cứ một mảnh nào trong đó. Em như người chơi puzzle, chỉ muốn lựa mảnh đẹp nhất để xếp vào bức tranh, nên em xếp không đúng chỗ. Em quên mất là phải đủ cả mảnh xấu, mảnh đẹp thì bức tranh mới hoàn thành.

 Nhưng anh ơi! Em phải thú thật là em yêu căn nhà nhìn qua cửa sổ của văn phòng em vô cùng, đó không phải là căn nhà, với em nó là một bức tranh. Nó tượng trưng cho cả một cái xã hội lẻ loi riêng biệt cho những người đi chung quanh nó hàng ngày, nó có chỗ đứng và niềm tự hào của riêng nó. Và không biết tự bao giờ bức tranh đó đã thành của riêng em. Em không là mảnh nhỏ  nào trong bức tranh đó, em là toàn bộ bức tranh. Nếu bây giờ người ta kéo ngôi nhà cũ kỹ đó xuống, thay vào bằng một cao ốc và hàng ngày em phải đối diện với một bức tường thẳng đứng, trắng lạnh lùng, không có một cánh chim bay ngang, không còn cây lê, cây mận như hai bà mẹ già, thì chắc là em sẽ buồn đến chết mất. Lúc đó dù em có muốn mình thành một con chim câu không biết buồn, hay thành một bông hoa lê trắng muốt, một trái mận vừa chát vừa ngọt, thành những bông hoa bìm bìm tầm thường, thành vạt nắng không có bóng người in, hay thậm chí thành cái ống khói cũ kỹ cũng không còn được nữa.

 Chao ôi, khi cái nhà đó bị kéo xuống để thay thế  cho một chung cư mới thì em sẽ mất tất cả!  Chỉ mới nghĩ lơ mơ thế thôi mà em đã muốn  khóc đây này.

Wednesday, June 4, 2014

Khi Thi Sĩ Chết


CHIẾC NÓN CỜI


                      Gửi anh chị PhạmTử Thiên với lời cám ơn

 Năm ngoái, đến Dallas dự một cuối tuần họp mặt anh chị em văn nghệ sĩ, tôi theo chân người bạn xứ Quảng đến nhà người thân của anh. Tôi được anh báo cho biết là sẽ được ăn mì Quảng ở đấy, một tô mì Quảng chính hiệu. Đón chúng tôi ở cửa là hai người đàn ông trọng tuổi, ông chủ nhà và một người bạn, cả hai nói tiếng Quảng đặc sệt, tôi cố nghe bằng cái tai Bắc kỳ cũ của mình tiếng được tiếng không. Một người đàn bà từ trong bếp chạy ra chào chúng tôi trên tay còn cầm đôi đũa bếp. Bà được giới thiệu là chủ nhà, người thân của anh bạn. Bà cười, nụ cười thân thiện, tươi tỉnh mời chúng tôi vào nhà, rồi lại chạy ngay vào bếp. Một chiếc bàn tròn đặt giữa bếp và buồng gia đình đã dọn sẵn bao nhiêu món ăn trên đó: Nào là nem chua, chả chiên, tré, bánh gai, bánh nếp, bánh ú.v.v. Ông chủ nhà giới thiệu hầu như tất cả những món ăn đó đều do bếp nhà làm, bếp nhà nấu.

Tôi xin phép được vào bếp xem bà chủ nhà nấu mì Quảng, gia chủ lên tiếng gọi vợ và đưa tôi vào bên trong, nhưng không phải vào cái bếp xây ở trong nhà mà là một cái bếp biến chế đặt ở ngoài sân sau.

 Chao Ôi là cái bếp! Một cái bếp khác hẳn những cái bếp mà tôi từng thấy ở bên ngoài nước Việt Nam. Đó là một cái bàn nhỏ hình chữ nhật, chung quanh phía trên được quay lại bằng một miếng thiếc lớn, bên dưới gầm bàn có bình gas, trên bếp hai cái nồi nấu mì Quảng đang sôi sùng sục. Đằng sau lưng của bà Bếp một cái bàn khác xếp đủ mọi thứ: Từ rổ rau, nồi xoong, chai nước mắm, lọ muối, con dao, cái thớt, tất cả mọi thứ cần dùng cho nhà bếp. Cái làm tôi chú ý nhất là nột cái thùng nhựa cao, đựng một thứ nước đục lờ, tôi đoán là thùng đựng tất cả những thức ăn thừa, hoặc thức nấu thừa đổ vào đấy. Tôi nhìn xa hơn chút nữa là một mảnh vườn xanh biếc đủ các thứ rau dưa cần dùng cho bà nội trợ, tôi biết ngay mục đích của cái thùng “nước gạo quê nhà” này. Bà chủ nhà mời tôi bước vào vườn, Bà chỉ từng bụi rau, cây cà, cây ớt, cây chanh, bụi xả, bụi húng, bụi lá gai để làm bánh gai. giàn mướp, giàn bầu. Bà cắt nghĩa cái đang ra hoa, cái đã bắt đầu hết mùa. Bà nói tiếng Quảng, tôi vừa nghe vừa nhìn nét mặt, miệng nói của bà để hiểu rõ hơn. Da bà nâu hồng, khuôn mặt xương xương, miệng tươi, hai mắt sáng. Bà di chuyển nhanh nhẹn giữa cái bếp và mảnh vườn con. Cúi xuống hái thêm một nắm rau thơm, bà nói:

“Cái mì Quảng ni, phải có rau thơm vào hắn mới ngon.”

Ngôn ngữ mỗi miền có cái đẹp riêng của nó. Tại sao lại gọi tô mì bằng tiếng “Hắn” thân yêu như thế nhỉ! Làm như tô mì là một cậu thanh niên có tay, có chân, cũng ngồi vào bàn ngay bên cạnh mình. Miền Bắc, miền Nam đâu có gọi như thế bao giờ. Nếu thử thay đổi câu nói đó như thế này: Cái mì Quảng này, phải có rau thơm nó mới ngon. Thì chữ “nó” đúng là tô mì rồi. Nhưng chữ “hắn” thì thật quá là “Người”. Chao ôi là cái tuyệt vời của ngôn ngữ! Chỉ một tiếng thả lơi trong câu nói lại bỗng nhiên biến thành mệnh đề chính.

Bà chủ nhà mời mọi người vào bàn, mỗi người một tô mì bốc khói trước mặt. Ông chủ xếp lên bàn cả mười lon bia cho bốn người đàn ông. Ông với tay lên nóc cái tủ chén sau lưng lấy xuống một chồng bánh tráng mè, chia cho mỗi người một cái, ông vừa bẻ từng miếng nhỏ bỏ vào tô mì vừa nói:

”Bánh này do bà ấy làm đấy!” Rồi ông kể chuyện làm bánh tráng mè của bà.

“Các bà xứ Quảng rủ nhau làm bánh tráng, cũng bấy nhiêu bột, bấy nhiêu nước mà không hiểu sao khi đem bánh phơi, bánh cứ bị nứt ra. Mãi sau các bà mới khám phá ra là tại cái nắp nồi. Cái nắp nồi phải là cái nón cời, không thể dùng cái nắp kim loại được.”

 Tôi hỏi cái nón cời là nón gì? Thì được cắt nghĩa là một cái nón rách. Cái nón lá phải cũ, phải rách, khi đậy lên lớp bột tráng trên miệng nồi thì mới thoát hơi nước ra ngoài được, do đó khi đem đi phơi thì bánh mới không nứt. Quả thật, khi bắt đầu dùng cái nón cời làm nắp, bánh phơi ra nắng, không có cái nào bị nứt.
Tôi cúi nhìn chiếc bánh trên tay. Cái bánh nguyên vẹn, tròn như mặt trăng rằm, những hạt mè trắng rang vàng rắc lên mặt như những chùm sao bay lạc vào đấy. Nghe chùm sao bay lạc vào mặt trăng kể cũng lạ thật. Nhưng không sao cả, cứ tưởng tượng ra như thế thì khi bẻ một miếng bánh tráng cho vào miệng, chẳng khác nào như được ngậm một mảnh thơ.

Tôi bẻ miếng bánh thơ cho vào miệng, bánh thơm phức, giòn tan. Tôi chỉ ăn hết nửa tô mì Quảng vì còn phải để bụng ăn thêm những món khác bầy trên bàn. Bà chủ nhà bóc một chiếc bánh gai đen bóng ra mời, bánh trộn bằng bột nếp và lá gai tươi hái ở ngoài vườn, nhân bánh bằng đậu xanh, tán nhuyễn, trộn đường, có vài sợi dừa và mứt bí. Bà chủ nhà quý khách quá, vừa tiếp ăn vừa nói.
 “Bánh ni đem về được, mỗi người gói một ít đem về nhà, không hư được đâu.”
Tôi thật thà: “Chị cho em thêm mấy cái bánh tráng này, bánh ngon qúa!”
 Cả hai ông bà cùng vồn vã:
“Lấy đi, bà ấy làm hoài mà.”
“Đem về hết đi, mai mốt tôi sẽ làm thêm. Bữa ni con dâu sanh, tôi phải chạy qua trông thằng cháu nội 3 tuổi, rồi còn phải nấu cơm cho mẹ nó nên không có làm nhiều.”
Tôi nhìn hai bàn tay gầy guộc của bà, những ngón tay có hình dạng như củ gừng, móng tay cụt ngắn, không sơn phết, không mang nhẫn ngọc, nhẫn vàng gì cả bằng con mắt cảm phục. Tôi nhớ người Trung Hoa nói phụ nữ có bàn tay trông như củ gừng là người phụ nữ đảm đang, giỏi quán xuyến gia đình, chồng con được nhờ.

Tôi hỏi nhỏ “Chị tuổi gì mà đảm đang quá vậy!”

“Tuổi Dần, cực lắm cô ơi! Tuổi Dần vừa mần vừa ăn, nên tôi làm cả ngày. Cứ cái vườn cái bếp nhà mình xong, lại qua nhà con.” Bà nói tiếng than với nụ cười rạng rỡ trên mặt như người ta nói về một niềm hạnh phúc chỉ riêng mình có.

 Chúng tôi vừa ăn, vừa nói chuyện, hết chuyện nấu nướng đến chuyện văn chương, thơ phú. Sao mà bây giờ ở hải ngoại nhiều thi sĩ thế. Nơi nào có người Việt là có thi sĩ in Thơ, ra mắt. Thi sĩ nhiều hơn văn sĩ, vì làm một bài thơ coi bộ nhanh hơn nghĩ một truyện ngắn. Anh bạn tôi cười :

-Làm vè còn nhanh nữa.

Tôi kể lại chuyện tối hôm qua gặp nhau, tôi nghe một nhà văn trẻ nói :
-Em thật ghét cái câu: Mỗi người Việt Nam là một thi sĩ quá! Thế nào cũng có lúc em viết bài phản đối câu này.

Tôi bảo:

-  Cẩn thận, câu này bây giờ được dùng thường xuyên là câu mở đầu cho những lần ra mắt thơ đó.

Chúng tôi đề cập đến những lỗi sai trong một bài thơ hay bài văn bây giờ rất ít vì tác giả tự đánh bài trên máy vi tính rồi gửi thẳng đến tòa báo. Không còn cái cảnh “ Trái tim bi thương” đánh sai thành “ Trái tim bị thương” nữa. (Đánh sai như thế này thì chính tác giả bị thương chứ không phải thơ.)

Hai mươi năm trước mà gửi bài đến tòa báo bằng một cái disket cũng là văn minh lắm rồi. Tiếp chuyển đến thời kỳ gửi bằng email, mới thực tuyệt vời. Chỉ cần năm phút sau là nhận được, thêm mười phút nữa là có thể thay đổi một phần nội dung bài viết. Không ngạc nhiên khi biết hiện nay trên toàn thế giới mỗi ngày có hơn 600 triệu người dùng email để liên lạc với nhau.(So với năm 1974 mới có con số hàng trăm–mà chỉ trong quân đội-) Viết tiếng Việt thì hầu như người viết nào cũng có font tiếng Việt ở máy vi tính của mình.
Tôi nhớ lần đầu tiên tôi dùng email chuyển bài cho Văn Học, và Hợp Lưu được cả hai ông Chủ Bút gửi lời khen ngợi, mừng rỡ như gặp Lý Toét lên tỉnh. Tôi biết khi tác giả dùng email chuyển bài thì những người phụ trách tạp chí rất mừng, mừng vì không phải lóc cóc đánh bài lại, và không khổ vì nạn các tác giả gọi tới, gọi lui đòi sửa một chữ trong bài thơ hay thêm một, hai dòng vào bài viết. Bây giờ tác giả tự sửa lấy bài mình rồi gửi lại chỉ cần nhắn vài chữ. “Bỏ bài trước, lấy bài này nghe!” Thế là cả người nhận lẫn người gửi đều vui vẻ, ăn ngon, ngủ yên, không còn phải cái khổ nằm trằn trọc suốt đêm, đợi sáng mai gọi điện thoại sửa bài, rồi gọi không gặp cộng thêm một ngày nữa nôn nao trong ruột.

Đời sống văn minh kỹ thuật càng ngày càng thay đổi, nhất là kỹ thuật điện toán, thay đổi đến chóng mặt, cái lap top này mới ra, giá hai ba ngàn đô, chỉ độ hai, ba năm sau cái khác có mặt giá rẻ hơn và tân kỳ hơn.
Anh bạn kêu lên:
- Ôi! Lại còn cái mục chụp hình, chụp ảnh nữa chứ! Thấy cái máy hình Digital không? Chụp cái tách, xem liền trên máy, thích thì giữ, không thích thì xóa đi, cho vào máy vi tính, mọi người xúm lại xem. Có máy in, có giấy in hình, in ra ngay phát cho mỗi người một tấm. Hồi tôi mới qua,1992, đến nhà bạn ăn cơm, chụp hình, lúc về các cháu cho mấy tấm hình đem về, đã khâm phục cái One Hour Photo, và cho là sướng lắm rồi.

 Tôi nói thêm:
-Còn cái vụ trên xe hơi có bảng chỉ đường( Navigator) mới hấp dẫn làm sao!
Anh đánh cái địa chỉ vào xe, xe hướng dẫn anh đi từng chặng, rẽ phải rẽ trái đến tận nơi anh muốn đến. Nếu anh đi quá một quãng đường thôi là máy biết ngay, giống như có người đang ngồi bên cạnh, chỉ cho anh quay lại từ con đường anh đi lạc. Tôi là người rất dốt về phương hướng, tôi mê nhất cái kỹ thuật này.

Chúng tôi, mỗi người một tiếng khen, chê sự thay đổi của đời sống kỹ thuật nói chung ảnh hưởng đến đời sống tâm hồn thế nào, và gia đình, xã hội cũng nhận được những thăng trầm biến đổi theo những ảnh hưởng đó.
Có tiếng trẻ con từ ngoài cửa chạy a vào. Thằng bé lên ba làm cả nhà ngưng đề tài đang nói. Nào là ông nội, nào là Bố bắt khoanh tay cúi chào các ông, các bà. Thằng bé ngoan ngoãn làm theo lời, giọng nó ngon như miếng bánh nếp của bà nội vừa bóc ra. Nó chạy a lại phía bà nội. Hai bà cháu rúi rít ôm nhau, bà khoe:
-Thằng ni, hắn giỏi nịnh bà nội, bao giờ tôi cho nó ăn nó cũng khen bà nội nấu ngon quá!
Bà quay ra nói với con trai:
-Con đem thức ăn về cho vợ con, mẹ xếp sẵn rồi.

Khi tôi trở về Seattle, ngồi trên máy bay, mở miếng bánh tráng mè của người đàn bà xứ Quảng ra nhâm nhi. Cái bánh tráng tròn như trăng rằm, có rắc những hạt sao mè thơm tan trong miệng tôi. Tôi nhớ đến cái bếp để ngoài sân, đến thùng “nước gạo” đến cái mảnh vườn con của bà. Bà mang cả một góc xứ Quảng trong hồn đặt vào mảnh đất khô khốc của một xứ sở xa xôi của miền trung nước Mỹ. Mặc cho đời sống xã hội bên ngoài thay đổi đến chóng mặt. Cái tiểu gia đình của bà vẫn có người đàn ông ngồi ở bàn cơm chờ vợ mang thức ăn đặt trước mặt, để ông ngồi nói chuyện thơ văn, có bà mẹ với bàn tay củ gừng nấu những tô mì Quảng, tự làm bánh tráng cho cả nhà, có bà nội vừa ôm cháu, vừa nấu ăn cho con dâu mới sanh.

Mảnh vườn nhỏ xanh biếc trong hồn bà như một chiếc vòng ngọc không tì vết, chiếc nón cời như một mái che hạnh phúc đơn sơ mà kỳ diệu, kỳ diệu đến nỗi không có một văn minh kỹ thuật điện toán nào len vào được, vì khi nó len vào, nó sẽ chẳng khác nào cái nắp nồi kim loại làm những vừng trăng hạnh phúc nứt ra mất.

Texas 2005




Tuesday, June 3, 2014